04 Tháng 10 2022
Lịch sử truyền thống nhà trường

Lịch sử truyền thống nhà trường (16)

Chủ nhật, 21 Tháng 8 2022 08:06

TRƯỜNG CẤP III ĐIỆN BIÊN NGÀY ẤY - Nguyễn Viết Hoa

Viết bởi

      Tôi cầm Quyết định phân công công tác về Trường cấp III Điện Biên ngày 14 tháng 10 năm 1975. Lên chuyến xe khách ngồi cạnh ông Bang cán bộ trường Cấp I Thanh Nưa, một người dễ gần và nhiệt tình. Ông giới thiệu về Điện Biên không khác dưới xuôi là mấy. Cánh đồng Mường Thanh là vựa lúa của Tây Bắc, Thị trấn Điện Biên sầm uất, nhà cửa san sát, dân tình giàu có buôn bán đủ loại nhất là phố người Hoa, nghe rất háo hức. Khoảng 5 giờ chiều chiếc xe từ từ đỗ lại trên một bãi đất trống ngã ba đường Lai Châu – Điện Biên – Tuần Giáo cuốn theo một khối bụi nâu đỏ mịt mù. Ông Bang nói bến đấy, xuống thôi! Ông hướng dẫn tôi đi bộ tiếp hơn một kilomet nữa là đến trường cấp III rồi vẫy tay chào tạm biệt.  

     Trường vừa tách ra từ trường cấp II - III Điện Biên và được bố trí vào khu đất ngay chân đồi A1, đối diện trường PTTHTP bây giờ qua trục đường quốc lộ Hữu nghị - 12 (Điện Biên – Tây Trang). Cơ sở vật chất nhà trường ngày ấy thật nghèo nàn, đơn sơ. có thể mô tả gọn thế này:

  1. Nhà hội đồng nằm sâu và chính giữa khuôn viên, là công trình xây duy nhất quay mặt ra quốc lộ, được tiếp nhận từ kho muối cũ của Công ty Thương nghiệp. Mái lợp gianh, giữa nhà kê một bàn bóng bàn đóng bằng gỗ ván xẻ, sơn xanh; treo phía trên là chiếc bóng điện 75W (điện ĐB có từ 19 đến 22 giờ, thỉnh thoảng nó lại tối, sáng theo chu kỳ được gọi là điện thở); có bốn chiếc ghế gỗ dài kê hai bên dành cho cầu thủ và khán giả;

Đây cũng là nơi hội họp triển khai các công việc của nhà trường.

  1. Sau nhà hội đồng là nhà ở tập thể của cán bộ, giáo viên mỗi người một phòng 9m2, kê cái giường một, một bàn làm việc nhỏ; vợ chồng Thầy Lộc Nhũ được một căn nhà độc lập đối diện nhà tập thể qua mảnh vườn trồng sắn; tiếp là nhà bếp đồng thời là nhà ăn tập thể;
  2. Từ hai đầu hồi nhà hội đồng hắt sang hai phía kéo ra ngoài quốc lộ:

- Bên trái là nhà KTX cho học sinh ở xa;

- Bên phải là 03 lán lớp học; mỗi lán 2 phòng học. Học sinh toàn trường hơn 200 gồm 6 lớp: 01 lớp 10;  02 lớp 9 và 03 lớp 8. Trường chỉ học buổi sáng;

  1. Sân trường là mảnh đất được giới hạn bởi nhà hội đồng, nhà KTX, dãy lán lớp học và đường quốc lộ. Diện tích nhỏ thôi được sử dụng tổ chức các buổi lễ khai giảng, bế giảng, phát động các phong trào thi đua; tập quân sự, học môn thể dục, chào cờ mỗi sáng thứ hai hàng tuần; còn lại phần lớn dành cho các môn thể thao buổi chiều.

Hội đồng trường có 16 thầy cô, tôi về là 17 và 3 nhân viên hành chính, Thầy Hoàng Xuân Chi là Hiệu trưởng; có duy nhất một cô giáo là Phạm Thị Miêng, vừa xinh đẹp vừa dịu dàng – niềm kiêu hãnh của trường Điện Biên.

    Từ năm 1976 trở đi số cán bộ giáo viên trường ngày càng nhiều, từ các tỉnh dưới xuôi lên, từ học sinh từ trường cấp III ĐB tốt nghiệp các trường ĐHSP, hoặc từ các trường khác chuyển về cùng các thầy cô người dân tộc thiểu số như Thầy Triệu Yên Phú, Cô Chu Trà Me, Thầy Lý A Lầu…

      Về phân loại nhân chủng học, tôi được xếp vào nhóm dân tộc Khơ Mú gồm: Dũng Xá, Tâm Xá và Hoa Xá. Đầu tiên không hiểu cứ ngơ ngác, sau mới biết do mình có một làn da đẹp thời tiền sử.

     Là trường lớn nhất so với trường Tuần Giáo, Thị xã Lai Châu, Phong Thổ. Năm 1976 đi bồi dưỡng hè, giáo viên 4 trường ngồi chưa đầy một phòng học. Cả Ty Giáo dục biết nhau, ai là người mới tất cả biết hết.

NHỮNG CÂU CHUYỆN VUI

       Chân ướt, chân ráo về trường tôi nhanh chóng trở thành ngỗng non, đối tượng cho các trò vui. Rất nhiều cú lừa ngoạn mục được sắp xếp có trình tự, có kế hoạch không thể biết và không thể tránh. Khi sập bẫy thì mọi sự đã rồi. Dư âm những cuộc như thế kéo dài nhiều năm trời, cứ gặp nhau là lại lôi ra, càng kể càng hấp dẫn như mới.

       Năm sau ông Trần Anh Tuấn lên thế thân, tôi được nâng cấp thành ngỗng bánh tẻ. Thực ra ông Tuấn không còn non nữa, bằng chứng là những ngày đầu ông thường hay đi xếp hàng ở cửa hàng thực phẩm gần trường nhưng không biết mua gì. Khi đến lượt, cô Tún người Thái bán hàng chăm chú nhìn và hỏi đến tem phiếu, ông lẳng lặng quay xuống cuối hàng xếp tiếp. Cô Tún xinh thật đấy! Phong cách trai phố cổ hào hoa, vui vẻ nên không ai nỡ lừa.

       Cái tập thể ấy nhiều người xa quê. Đùa vậy nhưng rất đầm ấm, rất sẻ chia. Thấy sáng nào cũng chạy sang phòng bóc lịch, biết tôi nhớ nhà, ông Nhuấn thỉnh thoảng lại vài câu vọng sang “Chiều nay có phải em về quê em Miền Trung, về thăm quê mẹ cho anh về cùng…” hoặc “Tìm em không thấy đâu, chỉ thấy tre làng vút xanh…Tìm em không thấy đâu, bóng đêm u buồn… vây quanh!” giọng trầm ấm, ông hát như đọc chuyện đêm khuya, buồn não lòng! đêm muộn, ông thường lôi những bài văn hay của học sinh ra đọc cho cả khu tập thể đang nằm trên giường nghe. Thường là những bài của Hoàng Tiến Dũng (Dũng Thổ), Lê Mai, Trần Tuyết Tám, Trịnh Lan… khối lớp 10. Tôi nhớ mãi đoạn văn Hoàng Tiến Dũng viết về Bác Hồ đi tìm đường cứu nước: “Sài gòn 1911 - Một con tầu cập bến, một con người ra đi…trước mặt Người là đại dương bao la mịt mùng bão tố, sau lưng Người là cả một dân tộc lầm than…” mọi người đều tham gia chấm bài.

       Các buổi chiều là các môn thể thao như bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, xà đơn, xà kép…buổi tối lại kéo nhau dọc đường HN - 12 xuống phố cũ hoặc nông trường bộ để chìm vào các câu chuyện đông, tây, kim, cổ. Hai bên đường là hai hàng cây long não ướt đẫm sương đêm, toả hương thơm mơ màng.

        Phong trào chơi bóng bàn huyện Điện Biên thật sôi động. Cả huyện có hai bàn bóng, một của thư viện chỗ anh Khải và một của trường. Buổi tối từ 7 đến 10 giờ các tay vợt kỳ cựu các cơ quan tụ tại nhà hội đồng gồm ông Ninh thương nghiệp, ông Khải thư viện, ông Tình nhiếp ảnh, ông Đạt thuyết minh phim… và đội ngũ giáo viên trường.

       Ông Văn đương kim vô địch tỉnh bộ môn bóng bàn và chứa đựng đầy các huyền thoại về tài năng trong mọi lĩnh vực trong đó có thể thao và âm nhạc. Tùy từng đối tượng mà ông chấp số quả sao cho ông phải cố mới thắng. Ông Quân được chấp 6; các ông Khải, Tình, Ninh, Tâm, Dược được chấp 10 đến 15. Riêng ông Lựu được chấp 20, có nghĩa ông Lựu chỉ cần được một quả là thắng. Có hôm ông Lựu thắng hết, đề nghị được giảm chấp xuống 19 nhưng ông Văn không cho.

      Chuyện được kể lại, ngày trường còn ở bản Bồ Hóng, bàn bóng kê ngoài sân. Có một trận cá độ giữa ông Chi và ông Lựu được ghi vào trang truyền thống nhà trường. Không hiểu sao hôm ấy hai ông già cay cú gì mà giữa trưa nắng chang chang, cởi trần đội nón chơi bóng như Hứa Chử cởi trần đánh nhau với Mã Siêu trong Tam Quốc, cả hội đồng làm trọng tài. Luật đấu là chơi hai trận, mỗi trận 3 séc; mỗi bên buộc một con gà vào chân bàn, bên thua mang gà đi thịt làm lễ công nhận.

      Sau một tiếng đồng hồ hai ông mồ hôi mồ kê đầm đìa, mặt mũi đỏ rực say nắng. Kết quả mỗi ông thua một trận, cả hai con gà đang  say nắng được hội đồng mang đi thịt và ăn giúp.

     Trường có các cây văn nghệ lãng tử. Một chiều buồn các ông mang  tăng âm loa đài tụ tập trước cửa nhà hội đồng ngẫu hứng một chương trình văn nghệ tầm vóc quốc tế. Ông Văn acoocdeon, ông Dược ghi ta, ông Tâm bộ gõ, ông Huỳnh xắc xô.

      Ông Oanh ca sĩ bẩm sinh với giọng trầm đục khỏe khoắn và hơi khàn của người Lào Lum đã thăng hoa với những bài ca Bezame, Trở về Suriento, Cô gái Sầm nưa, Lăm Tơi trên nền nhạc đệm như lên đồng. Dân tình ngang qua đường dừng lại xem đông hơn đêm biểu diễn của văn công trung ương. Tiếng vỗ tay cổ vũ, tiếng hò reo gào thét đòi hát lại rền vang sân trường nhỏ.

      Đội văn nghệ lớn dần theo sự trưởng thành của nhà trường. Bổ sung thêm ông Kổn, ông Tuấn, ông Hà - ghi ta; ông Dược chuyển sang bộ gõ, ông sáng, ông Hiếu, cô Lan ca sĩ… với những dòng nhạc đa dạng phong phú. Dàn nhạc trở thành chuyên nghiệp chuyên đi biểu diễn phục vụ các đám cưới khắp lòng chảo.

      Ông Chi hiệu trưởng sống đậm chất quê Thái Bình. Ông giảng dạy và nói chuyện thật dân dã. Ví dụ Ông kể: ngày trường sơ tán về bản Bồ Hóng, một lần có cái máy bay Mỹ bay qua đánh véo rồi phóng liền hai quả bơm bớp nổ oác, oác, hai cột khói bốc lên cuồn cuộn. Một bà gánh tương trên đường sợ quá ngã lăn quay ra đất làm đổ hai thùng tương thơm váng cả bản.

      Hoặc chuyện Ông giải thích nguyên nhân động đất do sập trần hang như thế này: trong lòng đất có những khoảng trống lớn gọi là cái hang. Đương yên đương lành thì bỗng oẵng một cái, mặt đất rung chuyển, nhà cửa chao đảo thì ra cái trần hang bị sập thành cái hố đen ngòm sâu hoăm hoắm. Ông Dược nghe sướng quá bảo cái hố có khi phải to như cái giếng trường mình ấy nhỉ, ông Chi trợn mắt: to hơn nhiều ấy chứ, cái giếng trường mình ăn thua gì! Kể xong ông sòng sọc điếu thuốc lào, ngửa cổ phà khói lên trần nhà, mắt lim dim như chờ đợi những đợt dư chấn tiếp theo.

      Vợ chồng ông Lộc Nhũ có con trai tên là Long. Trường có mỗi đứa trẻ 4 tuổi nên cả hội đồng tranh nhau giáo dục – đào tạo. Ông Chi thì dạy nó nói cái đèn bằng các thứ tiếng Nga, Anh, Pháp. Ông Tố thì dạy nó đóng kịch vai Ham Lét.

     Một chiều muộn, thấy bà ngoại cháu Long chạy đùng đùng ra giữa sân trường réo: Lại là ông Tố, ông Tố đâu rồi, ông Tố đâu rồi, dạy cháu thế à? Ông Tố chui vào nhà hội đồng cười như ma làm và kể: ông dạy thằng Long diễn kịch rồi đứng rình xem nó thực hiện thế nào. Thằng Long phăm phăm đi về phía bà ngoại đang thái cây chuối cho lợn, cầm thanh tre làm kiếm đưa lên trước ngực rồi chĩa về phía bà, người đứng ưỡn, đầu ngẩng cao dõng dạc nói: “Bà ơi! Trái tim anh nóng bỏng yêu thương”. Thấy bà ấy đứng phắt dạy buông rơi con dao thế là tôi chạy.

PHỤ HUYNH HỌC SINH

       Các tối thứ bảy, ngày chủ nhật chúng tôi thường rủ nhau đi thăm gia đình phụ huynh, gia đình cán bộ các cơ quan quanh huyện. Phụ huynh phần nhiều là khối công chức, viên chức, cán bộ Nông trường Điện Biên hoặc nhân dân vùng xây dựng kinh tế mới… Đến với họ là đến với những câu chuyện của quê hương, của chiến dịch Điện Biên Phủ, của bà con nông trường, bà con nông dân rồi chuyện về đồng bào các dân tộc thiểu số...

     Hôm đến thăm gia đình bác Nhật ở nông trường bộ, cả chủ và khách vừa ăn lạc rang vừa râm ran đủ thứ chuyện. Nhân chuyện nông trường trồng café Bác kể một chuyện rất thú vị. Bác thuộc sư đoàn 316, giải phóng Điện Biên được một tháng thì được lệnh điều về làm nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô. Hàng ngày các chiến sĩ tham gia các hoạt động tuyên truyền chính trị, giữ gìn an ninh thành phố cùng với công việc tiếp quản. Tối đến có thể đi chơi theo nhóm nhưng ít nhất phải từ 3 người trở lên và đến giờ giới nghiêm phải trở về đơn vị.

     Một tối, nhóm của bác lang thang qua cái quán nhỏ có biển đề: “Café Đô”, thấy hay hay mọi người kéo vào và kêu: cho 5 café đô! Bà chủ quán mang ra 5 fin café, một đĩa đường kính viên nén, 5 chiếc dìa nhỏ xíu. 5 người ngồi nhìn fin café nhỏ giọt trông dáng dân chơi sành điệu. Ngồi mãi, café thì không nhỏ nữa rồi, giờ giới nghiêm thì sắp đến mà tất cả vẫn ngồi nguyên. Sốt ruột quá bác Nhật quay sang ông Quân quê Hải Phòng (dân chơi đường 5) giục: Chơi đi chứ? ông Quân: chơi thì chơi! bác Nhật: thế anh chơi trước đi. Ông Quân thành thạo nhấc chiếc fin lên, trút bã vào tách café đã lọc, lấy dìa ngoáy đều, ngửa cổ nhăn mặt nốc một hơi hết sạch, thò tay nhặt viên đường bỏ vào túi. Tất cả y mẫu làm theo,  bà chủ quán tròn mắt ngỡ ngàng. Ông Quân đứng lên thanh toán tiền, bà chủ nhìn các chú bộ đội vẻ ái ngại và không nhận còn hẹn các chú tối mai lại đến. Mọi người bước nhanh ra cửa để kịp về trước giờ giới nghiêm. Trên đường về đơn vị, vừa ăn viên đường vừa nói với nhau: tưởng Café Đô ngon thế nào, đắng ngòm, khó nuốt, chả trách phải có thêm viên đường! ông Quân: mình chưa quen đấy thôi, Café Đô là nổi tiếng thế giới đấy!

     Vợ bác Nhật trẻ hơn bác đến chục tuổi trông thanh lịch, là một trong 200 thiếu nữ Hà Nội tình nguyện lên xây dựng Nông trường Điện Biên với hợp đồng là 18 tháng. Các cô gái được biên chế theo tổ đội sản xuất, được bố trí ăn ở tập thể cách biệt nơi ở và sản xuất của bộ đội khoảng 300m. Hai bên có phong trào thi đua sản xuất, văn nghệ và thể dục thể thao. Quan hệ nam nữ được quy định rất nghiêm ngặt, nghiêm lắm. Gần nhau đấy nhưng chẳng dám hò hẹn gì, để trong lòng thôi! Sự tình cứ âm ỉ, bén dần, bén dần rồi bùng lên lúc nào. Nhìn từng cặp, từng cặp dập dìu đi sản xuất, chính trị viên sư đoàn rất lo lắng  nhưng đành vậy, kệ thôi! 

       Hết 18 tháng, kiểm kê nghiệm thu và thanh lý hợp đồng chỉ có hơn chục cô hoàn thành nhiệm vụ được trở về Hà Nội với nhiều bằng khen, giấy khen. Gần 200 cô vi phạm điều lệnh quân đội nhưng không bị kỷ luật và trở thành vợ các chiến sĩ Điện Biên đến tận bây giờ, bác gái nằm trong số đó. Kỷ luật Quân đội có khác, Quân lệnh như sơn, khiếp!

      Thị xã chuyển về Điện Biên, Nông trường bộ chuyển vào vùng đồi C13 định cư, trường mất một nơi đi chơi đầy thi vị. Nghĩ thật thiệt thòi và tội các bác quá. Là người giải phóng mảnh đất lại là người nhen nhóm, gieo mầm, chăm sóc cuộc sống nơi đây giờ phải chui vào khe núi. Phía ngoài đẹp vậy thì toàn thấy dân khối công chức hoặc người dân tự do. Thỉnh thoảng vào thăm các bác chúng tôi thấy thật ái ngại rồi dần dần không dám đến nữa.

     Phụ huynh vùng kinh tế mới lại có những câu chuyện khác. Ông cụ Riễn (Bố cô giáo Đào Bình trường mình) người Quỳnh Phụ, Thái Bình. Nhà ông có đến 5, 6 đứa con, 2 đứa đang học tại trường cấp III, tất cả ở trong một ngôi nhà gỗ 3 gian hai trái trát tooc xi, lợp tranh. Các công trình phụ đủ cả. vườn tược rau cỏ, cây trái đâu ra đấy. Một cái ao chừng 200m2 gần ngay bờ suối, nước ra, nước vào thoải mái, đàn cá trắm cỏ thinh thoảng lại nhao lên đớp đám lá sắn nổi lợp lờ trên mặt nước trông thật vui mắt. Ông là trí thức thời Pháp nên uyên thâm các câu chuyện kể.

      Trong bữa cơm quê thân thiện đủ món cây nhà lá vườn, Ông ề à: HTX Thanh An về đây được chia ruộng, chia đồi. Hộ gia đình được chia đất thổ cư làm nhà, trồng trọt, chăn nuôi phát triển kinh tế phụ. Nói chung tốt cả, nhiều điều tốt hơn quê.  Cái đợt HTX triển khai công việc trồng sắn, ngô trên đồi, ban đầu nhìn người Thái làm mà sốt cả ruột. Đất đồi sau phát đốt họ cứ để nguyên vậy chẳng cầy cuốc gì, cứ bổ một nhát, quăng một mẩu hom sắn xuống rồi lấy chân đá đá lấp đất thế là xong. Trồng ngô thì dùng gậy nhọn chọc một lỗ, thả một hạt, di ngón chân cái vào miệng lỗ thế là xong. Chả trách nghèo!

      Các bác hiện đại hóa, sản xuất lớn XHCN đánh trâu lên đồi cày, khó thì cuốc nhặt sạch cỏ dại, làm tơi đất, trồng theo luống, cây cách cây, hàng cách hàng đều tăm tắp trông như bức tranh. Sẽ là hàng tấn, hàng tấn tấn! Nhưng sự thể lại không hẳn vậy. Ngô gieo xong thì đủ các loại chim, chuột, kiến, mối diệt đuổi không xuể. Chưa hết, vẫn chưa là gì. Mùa mưa đến, những trận mưa đầu mùa đã hình thành hệ thống các rãnh nước sâu hoắm, rộng toang ngoác chảy ngoằn ngoèo dọc từ đỉnh xuống tận chân đồi rồi đổ ra dòng suối bên dưới kéo theo hàng trăm tấn đất màu mỡ. Những cây ngô non hai ba lá trơ rễ rải khắp đến tận ven suối, có chỗ dồn tụ thành đống. Sắn thì mỗi nơi một hom. Nhìn sang nương đồng bào, ngô sắn cứ mơn mởn vươn mình trong gió, trong mưa, trong nỗi thất vọng của nền sản xuất lớn. Thả cá cũng vậy, thả để mùa mưa cung cấp con giống cho các ao của đồng bào, một phần phóng sinh ra sông, ra suối làm việc thiện. Thì ra…

       Phụ huynh vùng công chức, viên chức lại rất nhiều chuyện về đồng bào các dân tộc vì được đi nhiều, tiếp xúc nhiều. Họ nói về  y phục, về phong tục tập quán của từng dân tộc. Y phục của phụ nữ Thái là đẹp nhất từ kiểu dáng, phối màu đến các hoa văn và phụ kiện trang sức đi kèm. Vài chị em phụ nữ Thái trẻ trung trong bộ váy đen, áo cóm da trời, hàng cúc bạc, thắt lưng eo xanh cánh trả, hông cuốn hờ dây xà tích bạc…tất cả làm lộ những đường cong mềm mại của tạo hóa. Đầu trùm khăn piêu, vai đeo túi thổ cẩm, dáng đi uyển chuyển, nụ cười e lệ, mắt nhìn hoang dại líu ríu rủ nhau xuống chợ hoặc đi chơi ngày tết. Ai nhìn cũng thấy xao xuyến, bâng khuâng.

     Nhân dân các dân tộc Điện Biên rất coi trọng Tết Nguyên đán và Tết Độc lập. Tết đến người Mèo từ trên núi cao, người Xá từ lưng chừng núi, lưng chừng đèo xuống và người Thái từ khắp các bản ra, thị trấn đông kín đường. Trò chơi hấp dẫn nhất của họ là ném còn. Ngay cái tết Tây Bắc đầu tiên mình đi ném còn cùng người Thái. Một bên là nam, một bên là nữ đứng cách nhau một khoảng 15, 20 mét. Quả còn vải bông tua rua sắc màu bay đi bay lại, quả bắt được, quả rơi. Ai để rơi phải đính kèm và ném trả món quà là chiếc nhẫn hay hoa tai bạc giả. Cứ vậy mà cả ngày không chán. Đến bữa họ rủ nhau vào chỗ mát đâu đấy mang thức ăn ngày tết ra cùng ăn. Đôi nào vương vấn thì rủ nhau vào rừng sáng mai dậy ném tiếp. Mình ngố, quả nào cũng bắt, quả tay trái, quả tay phải được đến vốc nhẫn và hoa tai. Ban đầu họ cũng thích cười rúc rich, nụ cười có nắng, sau chẳng thấy quả nào bay về phía mình nữa. Mình mang vốc chiến lợi phẩm đến dúi cho một cô rồi quay về trường.

      Ngủ nhà người Thái rất thoải mái, đủ bộ phục vụ cho một giấc ngủ bình yên và có nhiều giấc mơ đẹp. Hôm cả hội đồng được mời xuống nhà ông Tòng Xuân Hương giáo viên cấp I Bản Hồng Nếch ăn cơm. Sau khi rượu ngà ngà thì bà Đón vợ ông Hương rót một dãy 18 chén rượu cho 17 ông và cầm một chén lên chúc. Uống xong, tưởng tửu lượng bà Đón có vậy, ông Chi líu ríu lưỡi thách đố. Bà Đón rót 18 chén nữa rồi lần lượt uống sạch. Hội đồng lăn quay ra say không biết do rượu hay do mất vía. Ông Hương dìu từng người vào các phòng ngủ, chăn ga gối đệm đầy đủ, các thầy ngủ đến tối mới tỉnh và bò về nhà. Qua cầu treo C4 ông Chi phải bò bằng 4 chân.

CÔNG VIỆC DẠY HỌC CỦA TÔI

Được giao dạy KTNN cho tất cả các lớp nên khóa đầu tiên tôi nhớ hầu hết học sinh toàn trường cả họ lẫn tên. Những buổi đầu lên lớp phải chuẩn bị  mấy ngày cho một giáo án, thâm tâm sẽ làm cho học sinh nghe giảng quên cả ra chơi. Đến khi đứng trên bục giảng thấy lộc ngà, lộc ngộc tự nhiên hồn vía lên giời, nói chẳng thành câu chỉ mong hết giờ. Lần nhắc cái Tuyết lớp 9B về việc nói chuyện riêng, nó cười duyên rồi bảo: Thầy nên nhớ là thầy ít tuổi hơn em đấy!

Học sinh Điện Biên hiền, ngoan, tôn trọng thầy cô giáo. Đi đường gặp thầy cô đều bỏ mũ nón đứng nghiêm chào. Đang đi xe đạp thì xuống xe để chào. Thích, nhưng thấy ái ngại. Ngày 20.11 hoặc tết Nguyên đán học sinh từng lớp kéo nhau đi hết phòng này đến phòng khác thăm và chúc tết các thầy cô. Vui, cảm động và thấy yêu nghề hơn.

     Vì KTNN là bộ môn phụ, không giá trị gì nhiều trong sự nghiệp sau này của học sinh và thường được bố trí vào các tiết cuối nên trong các bài giảng tôi luôn phải chế tạo các câu chuyện sao cho học sinh ngồi lại đến hết giờ. Học sinh nào học cả 3 năm cấp III môn KTNN chắc sẽ có bộ sưu tập giàu có về những câu chuyện kể. Ra trường chúng tỏa muôn nơi kiếm tìm sự thật. Sinh viên Trường Pháp lý còn kéo nhau về tận làng, tận nhà tôi để xác minh rồi chúng kết luận: Thầy toàn nói phét, làm gì ra có.

      Do thiếu nhiều giáo viên nên tôi hay được phân công dạy thay, dạy kiêm các bộ môn như KTCN, Hoá, Sinh…lúc này thì phong cách lên lớp hoàn toàn khác, cũng nghiêm nghị như ai.

      Sau này đi dự các buổi Hội lớp, học sinh lôi ra không biết bao nhiều là chuyện. Hóa ra chúng nhớ thật, nghe mà cứ ngơ ngẩn cười như chuyện về ai.

      Tính xuề xòa, thoải mái cũng là đề tài cho các cuộc vui. Có những câu chuyện bất diệt như: Giấy xin phép nghỉ học 8 điểm, sổ đầu bài 9 điểm; học sinh lên chốt đã 5 tháng nhưng vẫn gửi bài về chấm, vẫn có điểm tổng kết 8,5; hoặc có lần ngủ quên trên bàn giáo viên đang mơ về một nơi xa lắm thì ông Tâm vào lay dậy và bảo: ra để lấy chỗ cho tôi kiếm tí, từ sáng đến giờ đã được hào nào đâu…

      Mỗi lần đi làm thi tốt nghiệp hoặc bồi dường hè có đủ mặt quan chức và giáo viên các trường họ cứ thản nhiên kể những chuyện như vậy rồi gắn tên tôi vào đấy. Nghe cũng thấy hay hay và chẳng cải chính bao giờ. Qua thời gian thêu dệt câu chuyện ngày càng sinh động và giàu tính hài. Gia cố cho chặt chẽ tăng tính chân thực đến nỗi Trưởng Ty cũng cho là thật. Sếp hỏi có thật thế không? Dạ.. thật ạ! Có cần cải chính không? Dạ, không ạ!

     Đất nước mở cửa, Điện Biên mở cửa, nền văn minh nhân loại len lỏi đến từng ngõ ngách bản làng; Không còn những quả còn bằng vải tua rua sắc màu bay đi bay lại giăng mắc những mối tình; không còn những ánh mắt hoang dại nhìn đắm   đuối làm tê tái những con tim, vắt kiệt những hoang tưởng của một thời trai trẻ…

     Điện Biên vẫn đẹp và hấp dẫn như chính tên tuổi của mình vậy, ai xa nó không khỏi bâng khuâng nhung nhớ.

      Mỗi câu chuyện đều là những dòng kỷ niệm sâu sắc với tất cả những ai đã từng công tác tại nhà trường dù thời gian có là dài hay ngắn. Chuyện đều là thật, tôi chỉ ghi chép lại ai tin thì tin, ai không tin thì thôi, nhưng tôi cảm nhận nó vẫn lan lan đâu đó trong từng bản làng, góc phố, chân trời, góc bể theo dấu chân người Điện Biên và sẽ được gìn giữ cho nhiều thế hệ với nhà trường mà mỗi khi nhắc đến chúng ta đều cảm thấy trân trọng, tự hào.

     Xin gửi các bạn tình yêu và nỗi nhớ Điện Biên thay lời chào

Lỡ hẹn mùa ban

Em hẹn đến thăm vào mùa Ban nở

Để cùng đi trong rừng trắng muốt Hoa Ban

Lời hẹn đơn sơ, mắt đượm nồng nàn

Tôi mơ mải chờ mùa Ban đến.

Hôm nay đã giữa mùa lời hẹn

Cả rừng Ban rực rỡ nắng mặt trời

Cả rừng Ban bồng bềnh mây trắng

Hoa chen hoa theo gió chơi vơi.

Trong rừng Ban tôi đi với tôi

Nằm trên cỏ nhìn chùm hoa hé nở

Đếm cánh hoa rơi, đong nỗi buồn hẹn lỡ

Có biết không em, Ban chỉ nở mùa này?

Những chiếc khăn Piêu, say trong men say

Vui gì thế tiếng cười giòn vỡ?

Tay đan tay vin nhành Ban nhỏ

Hoa trắng rơi rơi phủ kín môi cười.

Chiều muộn rồi về thôi Pì Noọng

Bản làng xa lắm lạc rừng thôi

Cái nhìn bối rối vơi nỗi nhớ

Vơi nỗi mình tôi đếm bước về./.

Mùa ban 2014 - NVH

Chủ nhật, 21 Tháng 8 2022 08:04

NHẬN CÔNG TÁC - Nguyễn Viết Hoa

Viết bởi

    Sau hai tháng nghỉ chờ rồi lên khoa nhận quyết định phân công công tác. Chẳng vui, chẳng buồn và còn chẳng biết Tỉnh Lai Châu ở đâu và đến bằng cách nào. Hỏi trưởng phòng tổ chức cũng chẳng biết hơn vì mình là người đầu tiên của khoa được đưa về đấy.

    Lang thang nghe mỗi người nói một phách chẳng khác thầy bói xem voi, thực tâm cũng chẳng thiết tha để biết. Hôm đi thăm triển lãm Giảng Võ nhìn mô hình bản đồ toàn quốc đắp bằng thạch cao thấy Tỉnh Lai Châu nằm ở vị trí cực Tây Bắc đồng nhất màu xanh, nhấp nhô đồi núi có một con nai đứng nghênh sừng ở giữa. Hai vệt đỏ đường giao thông dẫn vào thị xã. Một vệt HN – YB - LCai – LC, một vệt HN – HB – SL – LC. Quyết định đi theo vệt thứ hai. Trên đường về vẩn vơ nghĩ lẽ nào giáo viên trên ấy được cưỡi ngựa đi dạy học?

      Hôm ra bến xe Kim Liên mua vé thấy hai cửa bán, một dành cho ưu tiên giáo viên phát triển văn hóa miền núi và cả hai cửa đều không một bóng người. Vé hẹn đi sau ba ngày và chỉ lên đến Tuần Giáo, lên thị xã phải mua tiếp vé tuyến nội tỉnh. Hoang mang cực độ, không lẽ mỗi mình đi Lai Châu?

      Đúng lịch 5.10.1975, một ngày đông giá rét, gió bấc hun hút thổi cùng làn mưa phùn dày hạt, cái.lạnh đến thấu xương. Chiếc ba lô, hai bộ quần áo cũ bộ đội, một áo len bảo, một vỏ áo bông không ruột, một chiếc chăn chiên, mấy phong lương khô kéo lê đôi dép cao su đến bến xe Kim Liên. Chuyến xe hôm ấy không như mình tưởng, đông kín cả ghế phụ. Lạ nhỉ, họ đi Lai Châu làm gì?

     Mới 5 giờ sáng mà khách đã lên xe đâu vào đấy, mình là người lên cuối cùng ngồi cạnh một anh bộ đội từ chiến trường Lào về nghỉ phép với gia đình ở Mường Ẳng. Xe chuyển bánh, Hà Nội xa dần, nỗi buồn thăm thẳm, bao nhiêu câu hỏi không câu trả lời. Tâm trạng trôi trong vô định, cuộc đời chắc cũng vô định thôi!

     Đến bến phà Suối Rút, Chợ Bờ tất cả xuống xe lên phà. Trời ạ, cái rét của con suối chảy ra từ núi đá sao ghê gớm làm vậy. Rét lắm! chân tay, hai má tê bì mất cảm giác, hơi thở phả ra trắng đục như sương. Nhìn sang bờ bên kia một con phà đang đi ngược lại thấy lòng quặn thắt, không biết đến bao giờ thì mình được ngồi trên chuyến phà đó?

     Người ta nói “Nước Sơn La, ma Hòa Bình” Đây là Hòa Bình, không biết có ma thật không nhưng hai bên đường là rừng cây âm u; đường hẹp quanh co uốn lượn, dốc lên, dốc xuống, sỏi đá gập gềnh không khác bài thơ “Tây tiến”, sóc đập đầu lên trần rồi dằn người xuống ghế. Một vài người bắt đâu nôn ọe, chui đầu qua cửa sổ nôn thốc, nôn tháo, người mềm oặt chẳng khác ma làm là mấy. Chẳng lẽ là ma Hòa Bình?

     Lái và phụ xe phục vụ đồng bào miền núi chất phác, tận tụy, lạc quan, tếu táo. Nhìn họ cứ như cuộc đời này thật đẹp không có gì nỡ xảy ra. Ông tài vừa lái chiếc xe khốn khổ, khốn nạn vừa kể những câu chuyện hài với cái cách tưng tửng rất có duyên. Mọi người chăm chú nghe rồi bật cười sặc sụa. Vui được từng đoạn.

     Gần đến Mộc Châu, chặng nghỉ đêm đầu tiên thì xe nổ lốp. Phụ xe thở hắt ra, cố tí nữa có phải tốt hơn không. Nói rồi vác bộ đồ nghề xuống lầm lũi làm. Hơn 30 phút sau xe lại lên đường như chẳng có gì xảy ra thật mặc dù chuyến đi còn 3 lần nổ lốp nữa.

      Thị trấn Mộc Châu hiện ra trong sương mù ẩm ướt. Những đồi chè xơ xác trước đợt rét đậm kéo dài. Thị trấn buồn hiu hắt trong chiều đông. 

      Nhà trọ là chiếc lán tranh vách nứa, bên trong là hai dãy sàn làm bằng tre, rải chiếu, Mỗi sàn một dãy chăn bông vỏ bằng vải chéo xanh Nam Định gấp gọn theo từng chỗ nằm. Vì không thành thạo nên được phân công trông đồ để anh bộ đội tên Luông đi xếp hàng mua vé trọ, vé cơm.

     Một ngày xe mới chạy được quãng đường từ Hà Nội đến Mộc Châu. Dọc đường giải lao, ăn cơm, làm lốp mất khoảng 2 tiếng. Còn 10 tiếng đi được 200km, trung bình 20km/h. Bây giờ nghe chuyện chắc chẳng ai tin nhưng nó là thế đấy, thường thôi mà. Ngày mai sẽ nghỉ ở thị xã Sơn La và ngày kia đến thị trấn Tuần Giáo. Ba ngày đi hơn 400 km một tý, cũng thường thôi.

      Đến Tuần Giáo Anh Luông bàn giao cho Anh Dũng người bản địa nhờ nghỉ đêm và mua vé giúp đi Lai Châu rồi Anh kiếm xe về Mường Ẳng. Thật cảm động, con người chưa từng quen biết lại ân cần chăm sóc mình trong suốt chuyến đi như một người anh. Chia sẻ từng điếu thuốc A Lào, kể những câu chuyện chiến trường, chuyện cuộc sống của người dân Lai Châu…. con người nơi đây có gì khác lạ, ấm áp chưa từng gặp.

      Chiếc xe khách Hải Âu lượn qua chân đèo Calavo rồi dừng lại tại cầu treo Bản Hốc. Xuống xe tìm về Ty Giáo Dục nộp hồ sơ và được sắp xếp chỗ ăn nghỉ cùng phòng với Ông Trần Đức Thủy giáo viên toán.

     Ông Thủy rủ đi Bản Hốc mua sắn vùi vào đống than củi bếp ăn tập thể. Đi chơi về đã thấy ai bới hết, hỏi ai bới, trả lời Ty bới; còn củ nào không, trả lời hết rồi; Hay nhỉ Ty mà cũng thế, trả lời Ty thì mới thế. Không biết à, nhất ăn ở trường, thường thường ăn huyện, ăn cho qua chuyện là ăn ở ty.

     Nhìn ai cũng thấy già già nhiều tuổi, hỏi sao không chuyển vùng, trả lời vì không có vùng để chuyển. Cách trả lời các vấn đề ở đây thật độc đáo, vui vui nguôi ngoai phần nào.

      Tranh thủ thời gian nằm chờ hai thằng dạo bộ khám phá. Thị xã Lai Châu nằm trọn trong vòng ôm của hai dãy núi kéo dài từ Đồi cao xuống Mường Lay. Con suối Nậm Na chảy giữa vòng ôm đổ ra Sông Đà. Cứ nghĩ nó giống Lục địa Sanhicop trong phim chuyện, không biết có điều gì sẽ xảy ra với nó trong tương lai?

      14.10 Ông Thủy nhận quyết định về Trường Trung cấp Sư phạm Tỉnh, mình về Trường cấp III Điện Biên. Tài vụ thanh toán cho tiền công tác, lương tháng 10, tháng 11. Nhiều tiền quá, xuống cửa hàng Nghé Toong ăn đủ thứ rồi ra bến xe Bản Xá mua vé đi Điện Biên.

NVH

Chủ nhật, 21 Tháng 8 2022 08:03

Mái trường thân yêu - Phùng Hồng Kổn

Viết bởi

Ra trường năm 1980, tôi được phân công về dạy môn Toán tại trường THPT huyện Điện Biên. Dạy học, chủ nhiệm lớp chưa hết một khóa thì  tôi bị điều về phòng Phổ thông Sở Giáo dục Lai Châu (khi đó thầy Thoại là Hiệu trưởng nhà trường có ý kiến với Sở xin giữ lại tôi cũng không được chấp thuận). Từ cánh đồng Mường Thanh thẳng cánh cò bay, chuyển lên thị xã, thung lũng hẹp tới mức mà “Mở mắt là thấy núi”(thơ Đào Nam Sơn: Mở mắt là thấy núi, nhắm mắt nhớ quê nhà) tôi nhớ Điện Biên da diết. Sau ít ngày  tôi viết được bài thơ, kính tặng các thầy cô giáo, thân mến tặng các em học sinh trường THPT huyện Điện Biên ngày ấy.

 

Mái trường thân yêu

Phùng Hồng Kổn

 

Ngôi trường chân đồi A1

Nơi tôi đã sống

Chỉ vẻn vẹn 3 năm

Nhưng ra đi không thể nào quên.

Những thầy giáo tóc rắc bụi phấn

Cả cuộc đời vun xới mầm xanh

Hiền hòa như dòng sông Nậm Rốm

Dâng phù sa tươi mát khắp Mường Thanh.

Những cô giáo lần đầu xa nhà

Bên giáo án bâng khuâng đêm thức

Lên lớp, nhìn đàn em

Bỗng niềm vui như cầm, nắm được.

Tiếng kẻng ngân vang

Xua tan sương sớm

Làm xích lại những sắc màu Thổ Cẩm

Những gương mặt thơ ngây

Màu hoa ban trong nắng.

Ngọn lửa trại hôm nào

Chợt bùng lên những nỗi khát khao

Tôi sẽ giữ lửa hồng ấm mãi

Trong tim thổn thức - Điện Biên.

                                    

Thị xã Lai Châu (cũ), tháng 12 năm 1983.

Chủ nhật, 21 Tháng 8 2022 07:57

60 năm một mái trường

Viết bởi

Chủ nhật, 08 Tháng 12 2013 11:04

Video trong lễ kỉ niệm 50 năm thành lập trường

Viết bởi

1. Video truyền thống lịch sử nhà trường

2. Video Đêm giao lưu các thế hệ thầy trò

3. Video Lễ kỷ niệm

Thứ bảy, 07 Tháng 12 2013 17:27

Tổng hợp thu, chi kinh phí kỷ niệm 50 năm

Viết bởi

Tổng hợp kinh phí thu, chi kỷ niệm 50 năm tính đến ngày 06.12.12

https://docs.google.com/file/d/14vklHMujDCamhBMf1tis8gRuGvNFbcM_jYwTORJUG14DQaRGq5fWL4ZkQBaS/preview

Danh sách các cá nhân, tập thể ủng hộ kinh phí giúp nhà trường tổ chức Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường 1962-2012

https://docs.google.com/open?id=0Bx0juF2ShsmxOFI4YTBuazJLQ2M

Kính thưa quý vị khách quý,

­Kính thưa các Nhà giáo lão thành, các thế hệ thầy giáo, cô giáo các cán bộ viên chức; các thế hệ cựu học sinh;

Thưa các em học sinh thân mến!

Hôm nay, trong cảnh sắc rực rỡ cờ hoa và không khí trào dâng niềm hân hoan phấn khởi của các thế hệ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh nhà trường, trường Trung học Phổ thông thành phố Điện Biên Phủ tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 30 năm ngày Nhà giáo Việt Nam; 50 năm ngày thành lập trường và Đón nhận Huân chương Lao động Hạng Ba.

Cho phép tôi thay mặt lãnh đạo nhà trường, thay mặt gần một ngàn bốn trăm cán bộ, giáo viên và học sinh nhà trường, nhiệt liệt chào mừng các Đồng chí Lãnh đạo Đảng và Chính quyền các cấp, các vị khách quý, các vị đại biểu, các nhà giáo lão thành, các đồng chí nguyên cán bộ giáo viên và học sinh của nhà trường, các cơ quan thông tấn, báo chí đã có mặt và chung vui niềm vui lớn với chúng tôi hôm nay. Sự có mặt của quý vị trong ngày Hội truyền thống này chính là biểu hiện sinh động của sự quan tâm đặc biệt, của những tình cảm chân thành sâu sắc, đồng thời cũng chính là nguồn động viên khích lệ to lớn đối với nhà trường. Thầy và trò nhà trường xin gửi tới quý vị lời cảm ơn sâu sắc, kính chúc quý vị sức khỏe, hạnh phúc và mọi điều tốt lành!

Kính thưa quý vị khách quý!

Thưa các thầy, cô giáo cùng các em học sinh thân mến!

Nǎm 1949, tại hội nghị Vacxava (thủ đô Ba Lan) Liên hiệp Quốc tế các Công đoàn Giáo dục (được thành lập tháng 7 năm 1946 ở Pháp) đã xây dựng một bản "Hiến chương các nhà giáo" gồm 15 chương với nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến, xây dựng nền giáo dục tiến bộ, bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng cũng như đề cao trách nhiệm và vị trí của nghề dạy học và nhà giáo.

Năm 1957 tại thủ đô Vacxava, Hội nghị Liên hiệp Quốc tế các Công đoàn Giáo dục đã quyết định lấy ngày 20.11 hàng năm làm ngày “Hiến chương các nhà giáo” và ngày 20.11.1958 là ngày "Quốc tế hiến chương các nhà giáo" lần đầu tiên được tổ chức trên toàn miền Bắc nước ta.

Sau ngày đất nước được thống nhất, "Quốc tế hiến chương các nhà giáo" về mặt ý nghĩa đã hoàn thành sứ mạng lịch sử đối với Việt Nam. Tuy nhiên, ngày 20-11 đã trở thành truyền thống của giáo giới và của cả dân tộc chúng ta. Chính vì vậy, theo đề nghị của ngành giáo dục, ngày 28-9-1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành quyết định số 167-HĐBT, quy định lấy ngày 20.11 hàng năm làm “Ngày Nhà giáo Việt Nam”.

Ngay sau khi có Quyết định nói trên, "Ngày Nhà giáo Việt Nam" đầu tiên được tổ chức trọng thể vào ngày 20/11/1982 tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Từ đó đến nay "Ngày Nhà giáo Việt Nam" đã trở thành ngày kỷ niệm có tính xã hội rộng lớn trên phạm vi cả nước. Đó là dịp để toàn thể xã hội thể hiện tình cảm tốt đẹp và bày tỏ sự tri ân đối ngành giáo dục và các thầy, cô giáo. Đồng thời cũng là dịp để đội ngũ thầy, cô giáo thể hiện quyết tâm không ngừng phấn đấu, rèn luyện trau dồi đạo đức, tình yêu nghề nghiệp, phong cách nhà giáo và trình độ chuyên môn để xứng đáng hơn nữa với nghề cao quý được cả xã hội tôn vinh.

Thưa các thầy, cô giáo kính quý!

Xin được chúc mừng quý thầy, cô đã lựa chọn và gửi gắm cả đời mình cho nghề dạy học, nghề mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Là nghề cao quý bậc nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo bậc nhất trong các nghề sáng tạo”. Dân tộc tôn vinh gọi các thầy cô giáo là “Kỹ sư tâm hồn”. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: "Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang".

Các thầy, cô giáo là những người không chỉ dạy chữ mà thông qua dạy chữ để dạy học trò đạo lý làm người. Đối tượng lao động sáng tạo của các thầy, cô giáo chính là nhân cách, là tâm hồn, thể chất con người nói chung và của thế hệ trẻ nói riêng. Chính vì vậy, trong quá trình lao động sáng tạo ấy, đòi hỏi mỗi thầy, cô phải hết sức cẩn trọng, khoa học, nghiêm túc. Giáo sư Nguyễn Văn Lê khi bàn về sứ mạng nhà giáo cũng từng nói: “Nếu người thợ kim hoàn làm hỏng một đồ vàng bạc thì anh ta có thể đem ra nấu lại. Nếu một viên ngọc quý bị hư thì có thể phá bỏ… Làm hư một con người là một tội lớn, một lỗi lầm lớn không thể nào chuộc được”. Tagore nhà thơ Ấn độ, người đạt giải thưởng Nobel văn học năm 1913 từng viết: "Giáo dục một người đàn ông thì được một con người, giáo dục một người đàn bà thì được một gia đình, giáo dục một người thầy giáo thì được một thế hệ". Như thế đủ biết trong cách nhìn của toàn nhân loại, từ cổ chí kim, từ đông sang tây nghề dạy học quan trọng và cao quý nhường nào.

Kính thưa Quý thầy, cô!

Tôi được biết thông qua lịch sử nhà trường rằng: rất nhiều thầy, cô đã từng trăn trở, đã từng mất ăn, mất ngủ và sẵn sàng dành một phần thu nhập của mình để giúp đỡ các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Có những thầy, cô sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình để che chở hoặc hướng dẫn các em học sinh trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Tôi cũng biết, nhiều thầy cô đã lặn lội đến tận nhà học sinh để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình các em, chia sẻ và động viên các em trên con đường học tập tu dưỡng. Định hướng để các em có một tương lai tươi sáng hơn. Tôi cũng biết trong sâu thẳm trái tim các thầy, các cô: học sinh cũng chính là con em mình. Rất nhiều thầy, cô đã nghẹn ngào trào dâng nước mắt khi biết tin học sinh của mình đạt kết quả cao trong các kỳ thi hoặc trưởng thành trong sự nghiệp. Những hình ảnh ấy, những sự hy sinh dù nhỏ ấy đáng trân trọng biết bao.

Trong bầu không khí đầy ý nghĩa này cho phép tôi thay mặt các thế hệ học sinh, các thế hệ phụ huynh và xã hội xin bầy tỏ lòng tri ân sâu sắc tới các thế hệ thầy, cô của trường. Kính chúc các thầy, các cô sức khỏe, hạnh phúc và sáng mãi tấm gương "Nhà giáo Việt Nam".

Kính thưa quý vị khách quý!

Kính thưa các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh đã từng giảng dạy và học tập tại trường!

Ngày hôm nay, niềm vui của các thế hệ thầy trò nhà trường như được nhân lên gấp bội, ý nghĩa của ngày “Nhà giáo Việt Nam” càng trở lên sâu sắc hơn, khi mà, chúng ta tụ hội về đây, trong niềm xúc động dạt dào và chứa chan tình nghĩa thầy trò, tình cảm bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp để cùng nhau ôn lại những kỉ niệm thân thương trong những tháng ngày cùng đèn sách bên nhau, chia ngọt sẻ bùi, những tháng ngày mà biết bao thế hệ thầy trò đã cùng nhau gieo trồng, vun đắp để tạo dựng nên một tính cách, một truyền thống của ngôi trường này, ngôi nhà chung của tất cả chúng ta vừa tròn 50 tuổi.

Kính thưa quý vị!

Thưa các em học sinh!

Trường Trung học phổ thông Thành phố Điện Biên Phủ mà tiền thân là trường phổ thông cấp 2 - 3 Điện Biên Phủ được thành lập năm 1962. Từ đó đến nay trường đã qua 6 lần đổi tên: Trường phổ thông cấp 2-3 Điện Biên Phủ; Trường Phổ thông cấp 3 huyện Điện Biên; Trường Phổ thông Trung học huyện Điện Biên; Trường Phổ thông Trung học số 1 Điện Biên; Trường Phổ thông trung học Chuyên ban thị xã Điện Biên Phủ; Trường Trung học phổ thông Thị xã Điện Biên Phủ và nay là Trường Trung học Phổ thông Thành phố Điện Biên Phủ. Ban đầu trường chỉ có 1 lớp 8 với 21 học sinh và thầy Phạm Tế Xuyên là người phụ trách trường. Sau đó lần lượt là các thầy, cô từng là hiệu trưởng nhà trường: thầy Nguyễn Mai Phương; thầy Hà Lan; thầy Hoàng Xuân Chi; thầy Lê Hữu Thoại; thầy Nguyễn Song Bình; cô Trịnh Thị Thanh và thầy Vũ Văn Phương.

Giai đoạn 1962 – 1975, trường mang tên Trường phổ thông cấp 2-3 Điện Biên Phủ.

Ngày 2/7/1965, giặc Mỹ ném trái bom đầu tiên xuống Điện Biên. Tháng 8/1965 trường sơ tán về bãi đất hoang bên bờ sông Nậm Rốm (nay là khu vực gần bản Noong Ứng, xã Thanh An, huyện Điện Biên). Chưa kịp khai giảng năm học mới thì do máy bay Mỹ ném bom lần 2 xuống Điện Biên nên trường lại phải tiếp tục sơ tán vào sâu trong rừng thuộc dãy núi phía Đông Mường Thanh (nay là khu vực bản Pú Tỉu xã Thanh Xương, huyện Điện Biên) và phải phân tán thành 2 nơi (cách nhau khoảng 4km): Bộ phận cấp 3 đặt dưới cánh rừng “Huổi Coco” (theo cách gọi của người dân địa phương, nay là vị trí đập ngăn để làm hồ Bo Hoóng) cách bản Bánh, xã Thanh Xương khoảng 1km về phía đông. Bộ phận cấp 2 đặt tại một thung lũng mà dân địa phương gọi là Púng Hồ (cách bản Pú Tỉu, xã Thanh Xương khoảng 1 km về phía đông). Sau ngày 10.4.1967 (ngày giặc Mỹ ném bom vào Púng Hồ), bộ phận cấp 2 tiếp tục sơ tán sang cánh rừng gần địa điểm của cấp 3 (Huổi Coco).

Đến tháng 9 năm 1972 trường chuyển về thị trấn (khu vực Bảo tàng và trường THCS Mường Thanh hiện nay).

Tháng 12 năm 1972, Mỹ tăng cường ném bom bắn phá Miền Bắc, trường lại phải sơ tán một lần nữa về 3 địa điểm: Khu vườn cà phê thuộc phường Thanh Trường hiện nay; Sau đồi Cháy (nay là tổ dân phố 20, phường Mường Thanh); Sau đồi A1 (nay là trường Mầm non Hoa Hồng).

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, trường trở về khu thị trấn cũ (khu vực Bảo tàng và trường THCS Mường Thanh bây giờ).

Trong giai đoạn này, thầy Nguyễn Mai Phương là hiệu trưởng đầu tiên của nhà trường. Hai thầy hiệu phó là thầy Cầm Kim và thầy Phạm Tế Xuyên.

Những năm chiến tranh các thầy cô giáo và học sinh đã vượt lên mọi hiểm nguy, gian khổ để giảng dạy và học tập. Ngày 10 tháng 4 năm 1967, giặc Mỹ rải bom xuống khu vực đóng quân của bộ phận cấp 2 ở Púng Họ. Trong trận bom này, thầy Đỗ Đức Bản, cô Nguyễn Thị Hiền đã hy sinh. Đặc biệt khi cô Hiền mất đi, người con trai của cô mới được 9 ngày tuổi; thầy Hoàng Xuân Chi cũng bị thương và đến nay vẫn còn mang thương tích trên người.

Trong giờ phút thiêng liêng này, tôi rất mong tất cả chúng ta hãy dành một phút lắng đọng tâm tư, thắp nén hương lòng, tưởng nhớ đến thầy cô và bè bạn đã mất (!).

Kính thưa quý vị!

Thưa các em học sinh!

Do phải thay đổi nhiều địa điểm nên nhà trường gặp muôn vàn khó khăn. Lớp học và nhà ở của học sinh và giáo viên sau mỗi lần chuyển địa điểm đều do chính thầy trò nhà trường bằng sức lao động của mình dựng lên. Có thể nói, đây là thời kỳ gian khổ nhất, song cũng là thời kỳ đẹp đẽ nhất, có nhiều kỷ niệm sâu sắc trong các thế hệ thầy trò nhà trường. Trong những năm này, Ban Giám hiệu nhà trường đã cùng tập thể cán bộ giáo viên ngày đêm tận tụy bám trường, bám lớp hết lòng vì học sinh thân yêu; vừa không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho thầy và trò; vừa tích cực góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. Trong thời kỳ này tất cả các thầy cô đều không được nghỉ hè và tết.

Kính thưa Quý vị!

Kính thưa các thầy cô giáo và các em học sinh!

Chính trong những năm tháng gian khổ nhưng rất oanh liệt đó nhà trường vẫn phát huy truyền thống cần cù, hiếu học, lập nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua hai tốt. Gương điển hình tiên tiến là học sinh Lê Việt Điền - Tổng kết các môn đều đạt 5/5, được trao tặng Huy hiệu Bác Hồ. Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp qua các năm đều đạt từ 85% trở lên. Đặc biệt, năm học 1970-1971 đạt 100%. Đội ngũ các thầy cô giáo ngày ấy, đến bây giờ hầu hết đã nghỉ hưu, có người đã đi xa (thầy Nguyễn Mai Phương, thầy Phạm Văn Thấn...); cũng có nhiều người thành đạt, trở thành cán bộ quản lí giỏi của ngành giáo dục như: thầy Hà Lan - Phó Ty Giáo dục Lai Châu, sau chuyển vùng về Hà Nội trở thành Nhà giáo ưu tú – Tiến sỹ, Vụ trưởng Vụ Đào tạo - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; thầy Cầm Kim - Trưởng Ty Giáo dục Lai Châu; thầy Trần Ngọc Khuê - Hiệu trưởng Trường Cấp III Tuần Giáo - Sau là Phó giám đốc Sở Giáo dục Lai Châu; thầy Phạm Quang Huỳnh - Hiệu trưởng trường cấp III Phong Thổ; thầy Phạm Viết Lộc - Hiệu trưởng Trường THPT Yển Khê - Phú Thọ...

Không phụ lòng dạy dỗ tận tụy của các thầy cô giáo, thế hệ học sinh thời ấy cũng có nhiều người thành đạt - tiêu biểu như: Bác sĩ - thầy thuốc ưu tú Lò Xuân Luyện - Học sinh khóa 1 - Nguyên Giám đốc Sở Y tế  Điện Biên; Bác sĩ - thầy thuốc ưu tú Đặng Thị Thành - Trưởng Khoa sản – Bệnh viện đa khoa Điện Biên; GS - TS Hà Duyên Tư - Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội; PGS - TS Nguyễn Công Bằng - Phó hiệu trưởngTrường ĐH Y khoa TháiNguyên; TS Hoàng Thế Ngữ - Chuyên viên Văn phòng Chính phủ, Chủ tịch HĐQT Công ty vàng bạc đá quý Việt Nam...

Năm học 1974-1975 trường tách ra thành Trường Cấp III Điện Biên - tiếp quản Cửa hàng thương nghiệp (khu Liên đoàn Lao động tỉnh Điện Biên và Trường Mầm non Hoa Ban bây giờ). Đây là thời kì nhà trường bước sang một giai đoạn mới với một cấp học độc lập để xây dựng và phát triển. Thầy Hà Lan giữ cương vị Hiệu trưởng, tiếp đó là thầy Hoàng Xuân Chi. Trong những năm này, thầy trò nhà trường vẫn nêu cao tinh thần đoàn kết, hăng say học tập và lao động. Chắc chắn trong kí ức bao học trò ngày ấy vẫn còn lưu giữ những hình ảnh các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn  học sinh thực hành thí nghiệm trồng lúa mì Kaliasonna (Ấn Độ) trên đồng ruộng; hay ngoài giờ học, thầy trò cùng vui chơi thể thao, lao động tăng gia sản xuất; tham gia phong trào "Diệt dốt” trong  suốt cả hai tháng hè... thầy trò thi đua đạt được những thành tích toàn diện cả về chất lượng giáo dục và hoạt động phong trào thể dục thể thao - văn hóa văn nghệ, v.v...

Năm học 1971-1972 và 1972-1973, nhà trường vinh dự được UBND tỉnh Lai Châu tặng cờ thi đua xuất sắc trong "Phong trào học tập và làm theo Trường Bắc Lí".

Năm học 1976 -1977 nhà trường vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Ba- Đó là phần thưởng cao quí thể hiện sự đánh giá cao của Đảng và Chính phủ về những nỗ lực phấn đấu của thầy trò nhà trường trong cả  một chặng đường đầy gian khổ hy sinh.

Cho đến năm học 1978-1979 thì trường chính thức chuyển về địa điểm hiện nay- Mảnh đất "Địa linh", nằm ngay dưới chân đồi A1 lịch sử. Trường  được đầu tư xây dựng một toà nhà 2 tầng khang trang, song vẫn còn rất nhiều khó khăn thiếu thốn về cơ sở vật chất. Còn nhớ những dãy nhà cấp 4 xây dựng dở dang không thể trát tường, lợp mái vì thiếu vốn... Nhưng với tinh thần đoàn kết nhất trí cao, tập thể BGH và giáo viên, học sinh nhà trường đã khắc phục mọi khó khăn bước đầu phấn đấu đạt được nhiều thành tích trong giảng dạy, học tập... Trong bối cảnh chung: nền kinh tế xã hội quá khó khăn, đời sống CBGV gian khổ, thiếu thốn, song các thầy cô giáo vẫn hết lòng dạy dỗ học sinh. Kết quả là tỉ lệ  học sinh thi đỗ tốt nghiệp qua các năm luôn đạt từ 85 đến 90%.

Nhiều học sinh ngày ấy nay đã trưởng thành - trở thành PGS.TS, trở thành cán bộ quản lí của các ban, ngành ở TW và địa phương. Một số gương mặt điển hình tiêu biểu như: PGS.TS Ngô Xuân Bình, Viện trưởng, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên; PGS-TS Vũ Ngọc Pi, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Đại học Thái Nguyên; Anh Lường Văn Cung - Nguyên Chánh thiết kế đường ống dẫn dầu -  Tổng Công ty Dầu khí Vũng Tàu; TS Nguyễn Đại Phượng - PV Báo Tiền Phong.

Và rất nhiều anh chị tốt nghiệp đại học đã trở về xây dựng quê hương Điện Biên - Lai Châu, nay đang giữ trọng trách trong các cơ quan ban, ngành của tỉnh, nhiều người trở thành giáo viên, cán bộ quản lí trong ngành GD& ĐT tỉnh nhà.

Từ 1981 đến 1984, trường mang tên Trường PTTH huyện Điện Biên và từ 1984 đến 1994 là trường PTTH số 1 Điện Biên

Giai đoạn từ 1982 đến 1992 do thầy Lê Hữu Thoại giữ cương vị Hiệu trưởng. Thầy đã cùng với tập thể BGH "chèo lái con thuyền sự nghiệp giáo dục" của nhà trường vượt qua những biến động của xã hội - Thiết lập kỉ cương nề nếp, tạo dựng cảnh quan trường học...

Thầy tận tụy - Trò chuyên cần, không chỉ trong học tập mà còn ở các hoạt động khác như: lao động xây dựng Bảo tàng Quân đội Điện Biên Phủ; lao động sản xuất, thực hành thí nghiệm trên đồng ruộng; ngoại khóa môn học lịch sử trên đồi A1. Phong trào TDTT cũng giành được thành tích tốt: Giải nhất toàn tỉnh môn nhảy cao nam - nữ năm 1985 - 1986)

Năm 1984, Kỉ niệm 30 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thầy trò nhà trường vinh dự được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới thăm (21/4/1984). Đại tướng đã ân cần thăm hỏi các thầy giáo, cô giáo và các cháu học sinh, đặc biệt là các học sinh dân tộc. Người cũng bày tỏ mong muốn rằng: Nếu trước đây, Điện Biên Phủ là điểm sáng của phong trào giải phóng dân tộc thì ngày nay Điện Biên Phủ phải phấn đấu để trở thành trở thành điểm sáng về trí tuệ của dân tộc và nhân loại. Hiện nay phòng Truyền thống của trường vẫn còn lưu giữ được những hình ảnh tư liệu quí báu đó.

Những năm cuối thập kỷ 80, lịch sử xã hội có nhiều biến động. Đây là giai đoạn  nền kinh tế đất nước chuyển giao từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường - Đất nước còn nhiều khó khăn, đời sống giáo viên cũng chịu sự tác động không nhỏ. Với đồng lương GV ít ỏi, nhiều người phải làm thêm nghề phụ để duy trì cuộc sống bình thường; học sinh bỏ học, qui mô trường lớp thu nhỏ. Chính sách giảm biên chế cũng tác động không nhỏ đến tư tưởng CBGV. Song với lương tâm nghề nghiệp của những người gánh vác trọng trách "Trồng Người" trên mảnh đất Điện Biên Phủ lịch sử, anh hùng. Với sự đoàn kết nhất trí của tập thể BGH và Hội đồng Sư phạm, nhà trường vẫn giữ vững danh hiệu Trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh. Trường có một đội ngũ giáo viên tâm huyết, có năng lực chuyên môn vững vàng, sẵn sàng cống hiến cả tuổi thanh xuân - gắn bó với sự nghiệp Giáo dục của nhà trường - Đó là những tấm gương nhà giáo tiêu biểu như: thầy Nguyễn Song Bình, thầy Phùng Hồng Cổn, thầy Đặng Đình Bưởng, thầy Trần Cương, cô Lê Mai, thầy Cao Trung Chinh, thầy Phạm Thanh Tuấn, thầy Nguyễn Anh Tuấn,  thầy Đỗ Khắc Phượng, thầy Phạm Vân Hùng, thầy Nguyễn Tiến Tăng, ... Các thầy cô giáo ngày ấy, bây giờ có nhiều người chuyển vùng, chuyển công tác nhưng vẫn là những nhà giáo, những cán bộ có uy tín cả trong và ngoài ngành giáo dục.

Công lao đóng góp của các thầy giáo, cô giáo đã góp phần tạo dựng nên những trang sử vàng truyền thống của nhà trường - Làm rạng danh tên tuổi Trường PTTH Điện Biên I thời bấy giờ.

Chất lượng giáo dục của trường những năm ấy cũng thật đáng tự hào: Tỉ lệ tốt nghiệp luôn đạt từ 90% trở lên. Có nhiều giải học sinh giỏi quốc gia. Tỉ lệ học sinh đỗ đại học ngày càng tăng lên. Những tên tuổi học sinh thành đạt giai đoạn này phải kể đến như: khóa học 1980-1984 có các HS trở thành Tiến sỹ, Thạc sỹ như: Nguyễn Thị Hoa, Vũ Văn Hải,...

Khóa 1984-1987: có các HS đạt giải Quốc gia như: Phạm Thị Xuân Châu, Phạm Thị Ngọc, Vũ Thị Hương...; Các học sinh giỏi toàn diện sau này trở thành tiến sỹ, thạc sỹ như: Phạm Thị Xuân Châu, Nguyễn Sĩ Quân, Lê Tiến Dũng, Nguyễn Tiến Phúc, v.v… Có nhiều các tập thể lớp thành đạt, tiêu biểu là tập thể 12C1 khoá 1984 - 1987. Nhờ sự quan tâm của các thầy cô chủ nhiệm: thầy Nguyễn Văn Cương, thầy Nguyễn Song Bình, thầy Bùi Duy Chính cùng với lòng nhiệt huyết trong giảng dạy truyền đạt tri thức của các thầy cô giáo mà lớp 12C1 sau 20 năm đã có được những thành tích đáng tự hào - với 1 tiến sỹ, 7 thạc sĩ và nhiều cá nhân tiêu biểu như: Nguyễn Đức Thành - Phó vụ trưởng Vụ quản lí cạnh tranh Bộ Công thương; Thạc sỹ Nguyễn Sỹ Quân – Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Điện Biên...

Năm 1988, Trường vinh dự được đón Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phạm Minh Hạc đến thăm - Đây chính là nguồn động viên cổ vũ lớn lao đối với thầy - Trò nhà trường.

Từ 1994 đến 2000, trường mang tên trường PTTH Chuyên ban thị xã ĐBP và từ 2000 đến 2002 là trường THPT thị xã Điện Biên Phủ. Trong giai đoạn này, thầy Nguyễn Song Bình (1993-1998) và cô Trịnh Thị Thanh (1999-2003) làm hiệu trưởng.

Đây là thời kì nhà trường phát triển đi lên cùng đất nước trong thời kì đổi mới. Chỉ tiêu tốt nghiệp luôn giữ vững từ 80 đến 90%. Học sinh đỗ Đại học-Cao đẳng chiếm tỷ lệ cao - có lớp đạt trên 80% (như các khoá từ 1997 đến 2000). Tỉ lệ HS giỏi cấp tỉnh luôn đứng ở vị trí nhất nhì trong Tỉnh, các năm đều có từ 3 đến 5  học sinh giỏi Quốc gia - được tuyển thẳng vào các Trường ĐH, CĐ.

Năm 1996 - Tổng kết 10 năm đổi mới, trường được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen, đó chính là phần thưởng cao quí khích lệ thầy trò nhà trường tiếp tục phấn đấu vươn lên đạt nhiều thành tích cao hơn.

Năm 1998, trường đạt giải nhất các tỉnh miền núi phía Bắc và  giải ba toàn quốc cuộc thi “Bảy sắc cầu vồng".

Đến năm 2002 trường đổi tên  thành Trường THPT Thị xã Điện Biên Phủ. Liên tục trong các năm học 2000-2001; 2001-2002, Trường vinh dự được đón Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm cùng đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ đến thăm.

Kỉ niệm 40 năm thành lập Trường (1962-2002), thầy trò nhà trường  tự hào đã làm nên những trang sử truyền thống vẻ vang. Nhìn lại chặng đường lịch sử 40 năm xây dựng và phát triển, chúng ta không thể quên những cống hiến lớn lao của các thế hệ học sinh. Trong những năm chiến tranh ác liệt đã có rất nhiều học sinh của trường tình nguyện xung phong ra mặt trận, nhiều lá đơn tình nguyện được viết bằng máu - Những tấm gương hy sinh anh dũng như: Anh hùng liệt sĩ Phạm Văn Hiền và cácliệt sỹ Lê Khanh, Lí Thế Việt, Đào Trường Thọ, Hoàng Phóng...; Anh hùng liệt sĩ Công an nhân dân Hà Ngọc Thao.

Noi gương các thế hệ cha anh đi trước - Thế hệ trẻ hôm nay cũng góp phần làm nên những thành tích vẻ vang trên hành trình tiến vào kỉ nguyên huy hoàng của “Nền kinh tế tri thức”. Những tên tuổi học sinh đạt thành tích cao trong các kì thi học sinh giỏi vòng tỉnh, học sinh giỏi Quốc gia như: Nguyễn Thị Thu Loan, giải nhất Toán vòng tỉnh;  Ngô Duy Kha – Đạt giải nhất môn Toán vòng tỉnh với số điểm: 19,5/20; Lý Đức, ba năm liền đạt giải học sinh môn Toán vòng tỉnh; Nguyễn Thị Hoa Mai- Giải ba môn Văn cấp tỉnh; Đỗ Thị Như Quỳnh- giải nhất môn Văn cấp tỉnh; Nguyễn Thị Dung-Giải nhì môn Văn cấp tỉnh; Nguyễn Thị Bích -  Giải Quốc gia môn Văn; Nguyễn Văn Thành, Trịnh Thị Hằng, Hoàng Thị Huyền- Giải Quốc gia môn Lịch sử...

Đó chính là sự khẳng định công lao to lớn của các thầy, cô giáo. Đến nay, các anh, chị đều đã trưởng thành và đang cống hiến ở mọi miền tổ quốc. Có nhiều các anh, các chị là giảng viên các trường đại học, là thành viên các viện nghiên cứu.

Từ năm 2002 đến 2007, Thầy Vũ Văn Phương là Hiệu trưởng nhà trường.

Đây là giai đoạn ngành giáo dục và đào tạo tiến hành đổi mới toàn diện cả về nội dung và phương pháp dạy học. Nhà trường đã tham gia tích cực và luôn là hạt nhân trong công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông. Rất nhiều thầy cô giáo của trường là cốt cán thay sách nhiều năm của tỉnh.

Với quy mô học sinh từ 1700 đến 2000 và quy mô giáo viên trên dưới 100 người, trường THPT thành phố Điện Biên Phủ luôn là trường có quy mô lớn nhất trong khối các trường THPT của tỉnh. Chất lượng giáo dục của nhà trường trong giai đoạn này cũng luôn nằm trong nhóm dẫn đầu của các trường THPT. Trong các năm từ 2002 đến 2006, nhà trường có 125 học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh; 16 học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia; tỷ lệ tốt nghiệp luôn đạt trên 90%. GV dạy giỏi cấp tỉnh luôn đạt tỷ lệ trên 25%. Năm học 2005-2006, trường đạt giải nhất Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh.

Trong 5 năm học gần đây, đội ngũ giáo viên luôn đủ về số lượng, tương đối đồng bộ về cơ cấu, tỷ lệ giáo viên giỏi cao. Hầu hết các giáo viên sử dụng thành thạo các thiết bị dạy học hiện đại, tích cực đổi mới phương pháp, ứng dụng hợp lý và hiệu quả CNTT trong giảng dạy.

Số giáo viên giỏi các cấp luôn được duy trì và nâng cao trong từng năm học. Tỷ lệ giáo viên giỏi cấp tỉnh hiện tại của trường là 34,1%. Và tỷ lệ này là cao nhất trong các đơn vị trực thuộc Sở GD&ĐT.

Năm học 2011-2012, trường đã được UBND tỉnh công nhận là trường đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ học sinh khá, giỏi của năm học này đạt 45,7%, vượt 7,7% so với tiêu chí của trường chuẩn quốc gia. Cũng trong năm học này, nhà trường đã đạt Giải Nhì Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh; Giải Nhì Hội khỏe Phù đổng cấp tỉnh, Giải Nhất Hội thi thiết bị dạy học tự làm, Giải Ba Hội thi thiết kế bài giảng điện tử e-learning.

Chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi, từng bước phát triển vững chắc. Số lượng giải học sinh giỏi các cấp tăng nhanh qua từng năm học. Năm học 2007-2008: 04 giải; Năm học 2008-2009: 15 giải (trong đó có 1 giải quốc gia và so với năm học trước tăng 11 giải);  Năm học 2009-2010: 67 giải (tăng 52 giải so với năm học trước); Năm học 2010-2011: 97 giải (trong đó có 01 giải quốc gia và so với năm học trước tăng 30 giải); Năm học 2011-2012: 143 giải (tăng 46 giải so với năm học trước).

Về thành tích thi đua, từ năm học 2006-2007 đến nay, năm học nào nhà trường cũng được UBND tỉnh công nhận đạt danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”. Hai lần được UBND tỉnh Tặng Cờ thi đua xuất sắc (2008-2009 và 2010-2011). 01 lần được Chính phủ tặng Bằng khen (2009-2010). 01 lần được Chính phủ tặng Cờ thi đua (2010-2011).

Đặc biệt, để ghi nhận và vinh danh những thành tích xuất sắc mà thầy và trò nhà trường đã nỗ lực, cố gắng đạt được trong 5 năm học qua, Chủ tịch nước đã quyết định tặng thưởng huân chương Lao động Hạng 3 cho nhà trường.

Kính thưa Quý vị!

Kính thưa các thầy cô giáo và các em học sinh!

Phấn khởi và tự hào với truyền thống 50 năm, trong giờ phút tràn ngập niềm vui của ngày hội lớn hôm nay, Thầy và trò nhà trường xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Điện Biên, tới Thành ủy, HĐND và UBND thành phố Điện Biên Phủ, tới Sở Giáo dục và Đào tạo đã dành cho trường sự quan tâm chỉ đạo sâu sắc.

Nhà trường cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các ban ngành đoàn thể của tỉnh, tới cấp ủy và chính quyền các huyện, thị trong tỉnh về những tình cảm quí mến và sự giúp đỡ về nhiều mặt dành cho Trường.

Nhà trường cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các trường THPT, các phòng Giáo dục, các Trung tâm GDTX, các trường chuyên nghiệp và đặc biệt là các thế hệ cha mẹ học sinh về sự cộng tác chặt chẽ và giúp đỡ quý báu trong công tác giáo dục của nhà trường.

Trong ngày hội lớn hôm nay, Nhà trường rất phấn khởi và tự hào về sự trưởng thành cũng như sự đóng góp cống hiến, hy sinh của các thế hệ cán bộ giáo viên và học sinh kể từ khóa 1 đến nay. Chính các thầy cô giáo và các anh, các chị đã góp phần tô thắm và làm rạng rỡ truyền thống và uy tín của Nhà trường. Từ nhiều tháng nay, các cựu cán bộ, giáo viên, các cựu học sinh đã tổ chức nhiều hoạt động phong phú, thiết thực hướng về ngày Hội trường. Thầy và trò nhà trường xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các thầy cô giáo, tới các anh, các chị và xin các thầy cô giáo, các anh, các chị hãy tin rằng, chúng tôi: những người đang công tác và học tập tại trường sẽ làm hết sức mình để ngôi nhà chung của chúng ta mãi mãi xứng danh với lịch sử truyền thống vẻ vang của mình và là điểm sáng bền vững trong sự nghiệp phát triển giáo dục của tỉnh Điện Biên.

Kính thưa Quý vị!

Kính thưa các thầy cô giáo và các em học sinh!

Trong 50 năm qua, cán bộ giáo viên, học sinh và Nhà trường đã có những hy sinh, đóng góp và cống hiến to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Những nỗ lực, cố gắng, những thành tựu đạt được đã được Đảng, Nhà nước và Nhân dân trân trọng ghi nhận.

Tuy nhiên, với vị trí là một trong những trường hàng đầu của các trường THPT trong tỉnh, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các ban ngành đoàn thể và nhân dân đang đòi hỏi và kỳ vọng ở Nhà Trường nhiều sự đóng góp to lớn và quyết định hơn nữa.

50 năm đã trôi qua, đứng trước bề dày truyền thống của nhà trường, điều trăn trở lớn nhất của toàn thể lãnh đạo, cán bộ, giáo viên và học sinh Trường THPT thành phố Điện Biên Phủ là: trong thời gian tới phải làm gì để thừa kế và phát huy những thành quả tinh hoa mà bao thế hệ đi trước bằng sức lực, trí tuệ, mồ hôi, nước mắt và cả xương máu, đã để lại cho hôm nay; phải làm gì để đền đáp lại công lao to lớn, sự quan tâm chăm sóc và mong mỏi kỳ vọng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh nhà.

Trên cơ sở những định hướng chiến lược phát triển toàn diện và lâu dài của tỉnh được quy định tại văn kiện Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XII (nhiệm kỳ 2010-2015) và Quy hoạch phát triển giáo dục tỉnh Điện Biên và định hướng đến năm 2020 của Sở GD&ĐT, Trường THPT thành phố xác định:

Xây dựng nhà trường thành đơn vị giáo dục trọng điểm chất lượng cao của tỉnh với mô hình giáo dục hiện đại, tiên tiến đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của mục tiêu giáo dục trung học và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh. Đồng thời phải góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa vùng Tây Bắc.

Phấn đấu để trường trở thành địa chỉ ưu tiên lựa chọn hàng đầu đối với nhu cầu công tác, học tập, tu dưỡng của cán bộ, giáo viên và học sinh trong tỉnh.

Tạo dựng môi trường giáo dục với nền tảng là kỷ cương, nề nếp và các giá trị sống cốt lõi: đoàn kết, trung thực, trách nhiệm, hợp tác, nhân ái, tự trọng, khiêm tốn.

Phấn đấu để học sinh nhà trường phải là những cá nhân có tư duy độc lập, sáng tạo luôn có khát vọng vươn lên để tự khẳng định mình, có tri thức phổ thông đầy đủ, có kỹ năng sống hoàn thiện và luôn chủ động khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội.

Để thực hiện được mục tiêu trên, trước mắt thầy và trò nhà trường cần thực hiện tốt các nhiệm vụ chính đó là:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào do Trung ương Đảng và Bộ GD&ĐT phát động. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung, cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”....

Thứ hai, Thực hiện triệt để chủ trương của Bộ GD&ĐT về đổi mới toàn diện chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục. Đẩy mạnh giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục hướng nghiệp và giáo dục pháp luật một cách sâu sắc và hiệu quả.

Thứ ba, Thực hiện nghiêm túc và có chất lượng chủ trương của Bộ về việc tiếp tục đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu phản ánh đúng chất lượng.

Thứ tư, Tập trung xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên giàu tâm huyết, giỏi chuyên môn, giàu trí tuệ, tinh thông nghiệp vụ đủ sức giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các vấn đề thực tiễn cuộc sống nói chung và chất lượng giáo dục nói riêng đặt ra. Xây dựng môi trường làm việc theo hướng tiên tiến, hiện đại và thân thiện.

Thứ năm, củng cố và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hoá về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học hiện đại.

Thứ sáu, phấn đấu giữ vững và từng bước vượt các chỉ số quy định đối với trường chuẩn quốc gia.

Kính thưa Quý vị!

Kính thưa các thầy cô giáo và các em học sinh!

Với hành trang 50 năm - truyền thống vẻ vang xây dựng và phát triển Nhà trường, với đội ngũ các cán bộ giáo viên năng động, tâm huyết, giàu trí tuệ; với đội ngũ cán bộ, viên chức hết lòng vì sự nghiệp chung; với sự hợp tác chặt chẽ có hiệu quả của cha mẹ học sinh toàn trường, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn trở ngại để xây dựng Trường Trung học phổ thông thành phố Điện Biên Phủ - ngôi nhà chung của tất cả chúng ta - nơi thắm đượm tình thương và trách nhiệm, lòng bao dung và nhân ái, thành một trường trọng điểm chất lượng cao của tỉnh, đủ sức gánh vác và giải quyết những nhiệm vụ mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh tin tưởng giao phó; Cùng các trường khác trong hệ thống các trường Trung học phổ thông của tỉnh xây dựng một nền giáo dục phổ thông trung thực và lành mạnh, Góp phần cùng ngành giáo dục thực hiện thật tốt sứ mệnh: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; và đào tạo nguồn lực con người có chất lượng cao cho tỉnh và đất nước.

Cuộc hội ngộ hôm nay dưới mái trường này, chính là sự biểu dương lực lượng và thể hiện quyết tâm của các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh nhà trường trước hành trình mới, hướng tới mục tiêu cao cả đó.

Xin kính chúc quý vị khách quý, quý vị đại biểu, các thầy cô giáo và các em học sinh sức khỏe, hạnh phúc và thành công!

Trân trọng cảm ơn!

Thứ bảy, 07 Tháng 12 2013 17:14

Trường tôi, ngày ấy - bây giờ

Viết bởi

Tháng 5/1985, chúng tôi tạm biệt trường cấp III Điện Biên, ngôi trường thân yêu sau 3 năm gắn bó với bao nhiêu kỉ niệm buồn, vui. Chia tay, mỗi người đều ấp ủ trong mình những ước mơ và mong muốn thực hiện cho bằng được những hoài bão, dự định của mình. Bao nhiêu thành viên là bấy nhiêu ý tưởng, mỗi người đều chọn cho mình những hướng đi riêng, để đến bây giờ, sau gần 30 năm gặp lại nhau, ai cũng cảm thấy vui khi được chứng kiến các bạn của mình đã trưởng thành ở nhiều lĩnh vực công tác khác nhau.

Tựu trường trong dịp trường kỉ niệm 50 năm ngày thành lập, tôi không khỏi bồi hồi, xao xuyến, xúc động trước sự đổi thay thật nhanh chóng của trường mình năm xưa. Dãy nhà hai tầng vẫn còn nguyên vị trí nhưng nó đã được sửa chữa và nâng cấp khang trang hơn rất nhiều. Nhà lớp học, nhà chức năng và các công trình phụ trợ đã được đầu tư xây dựng kiên cố, mang tầm vóc của một trường THPT trọng điểm của tỉnh.

Trường cũ đây rồi, tiếng cười, tiếng nói, những cái bắt tay thân thiện với các thế hệ thầy cô giáo của trường khiến tôi như trẻ lại. Nhưng các thầy cô giáo cũ của tôi, sao không nhìn thấy bóng dáng ai? Bỗng dưng tôi cảm thấy chơ vơ, hẫng hụt và chợt nhận ra rằng, tôi rời xa trường đã quá lâu rồi.

Sau 30 năm xa trường, bây giờ các thầy cô giáo cũ đều đã nghỉ hưu, nhiều người đã “lên ông, lên bà”; các thành viên trong lớp tôi hầu hết thành đạt, người là doanh nhân giàu có, người làm bác sĩ giỏi, giáo viên giỏi, người thành danh trong lĩnh vực quản lí nhà nước, đó là các bạn: Lê Thành Đô - Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Tiến sỹ, bác sỹ Hoàng Hoa Lý - Vụ Y học Cổ truyền, Bộ Y tế; Vũ Ngọc Vương, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Điện Biên; Đặng Xuân Vịnh, Trưởng phòng Bảo vệ chính trị nội bộ, Ban Tổ chức tỉnh ủy Điện Biên; Phạm Quang Hải - Chi cục trưởng cục Bảo vệ thực vật Tỉnh Lai Châu; Trần Văn An, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Tân Hòa An...  Song cũng còn một số bạn đang gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Có thể nói rằng, sự trưởng thành của lớp tôi hôm nay chính là món quà vô giá mà chúng tôi tri ân các thầy các cô trong ngày tựu trường đầy ý nghĩa này.

Nhớ lại cái ngày lớp chuyên toán 10A1 đầu tiên của trường cấp III Điện Biên được gọi tên, chúng tôi, ai cũng thấy rất tự hào vì mình được vinh dự đứng tên trong lớp đặc biệt này. Niềm vinh dự ấy đã trở thành động lực thôi thúc chúng tôi học tập, rèn luyện; đặc biệt hơn, lớp chúng tôi còn được các thầy cô giáo có kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy như thầy Nguyễn Song Bình, Thầy Nguyễn Ái Thống, Thầy Nguyễn Mạnh Cường, thầy Phạm Vân Hùng; Thầy Phạm Hữu Dược và nhiều thầy cô khác nữa. Lại nhớ việc ôn thi ngày đó, các thầy các cô đã dồn tâm huyết qua từng bài giảng, hết lòng với học sinh, nhưng tuyệt đối chúng tôi chẳng ai có một chút thù lao hay bồi dưỡng gì cho các thầy các cô. Bởi ngày ấy cả thầy và trò đều rất khó khăn, đến trường học tập chuyên cần đã là cố gắng lắm rồi. Bây giờ nghĩ lại, tôi cảm thấy chạnh lòng thương các thầy.

Điều mà tôi cảm phục nhất ở các thầy bởi hầu hết các thầy là người miền xuôi tình nguyện lên Lai Châu công tác, địa danh lịch sử "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" nhưng vô cùng xa xôi và khó khăn. Xa quê, xa người thân, đành lỗi hẹn với người thương để lên cái đất “khỉ ho cò gáy” vì sự nghiệp giáo dục miền núi, song mảnh đất biên viễn này dù nghèo nhưng không làm các thầy chán nản. Nhà tập thể tranh tre, vách đất cũng không làm giảm nhiệt huyết và trái tim yêu nghề, yêu học trò của các thầy các cô. Mức sống đơn giản, đạm bạc, xe đạp cà tàng, bếp củi, đèn dầu, đồng lương ít ỏi nhưng các thầy các cô vẫn duy trì một cuộc sống tràn đầy niềm vui, vẫn quan tâm đến hoàn cảnh của từng học sinh trong lớp. Thầy còn sẵn sàng đạp xe hàng chục cây số đến nhà từng học sinh để hiểu rõ hoàn cảnh gia đình từng đứa. Những hành động có vẻ rất bình thường đó, thế mà nó đã in sâu vào trong trí nhớ của tôi từ bao nhiêu năm tháng qua. Tinh thần vượt mọi gian lao, vất vả của các thầy các cô trong những năm tháng khó khăn đó thật đáng trân trọng biết bao.

Trở lại trường vào dịp trường tròn 50 tuổi, một nửa thế kỉ qua, trường tôi đã bước đi những bước vững chắc và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác dạy và học. Biết bao thế hệ nhà giáo, học sinh của trường đã thành đạt và được lưu danh trong bảng vàng danh dự của trường, biết bao phần thưởng và danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước đã được phong tặng cho tập thể nhà trường. Sự vững bước đi lên của trường hôm nay chính là niềm tự hào của các thế hệ học sinh chúng tôi. Xin cảm ơn Thầy Cô đã chắp cánh cho những ước mơ của chúng tôi được bay cao, bay xa, để chúng tôi vững bước vào đời, lập thân, lập nghiệp.

Và hôm nay, trở lại trường trong niềm vui hân hoan của các thế hệ giáo viên, học sinh chào mừng kỉ niệm 30 năm ngày nhà giáo Việt Nam, chúng tôi muốn làm một việc gì đó có ý nghĩa để tạ ơn thầy, ơn trường và lưu dấu ấn của tập thể lớp 12C1 (niên khóa 1982-1985). Món quà của chúng tôi tuy bé nhỏ nhưng chúng tôi mong muốn được đóng góp công sức của mình vào phát triển trường ngày càng vững mạnh.

Ông Lê Thành Đô cựu học sinh lớp 12C1 cùng các bạn trong lớp tặng quà cho trường nhân dịp kỉ niệm 50 năm thành lập trường

Ảnh tập thể lớp 12C1 niên khóa 1982-1985

Chúng tôi mong muốn các thầy cô giáo trẻ của trường hôm nay đang được công tác trong một môi trường hết sức thuận lợi, trường lớp khang trang, phương tiện dạy học hiện đại, các điều kiện của trường đã đạt chuẩn quốc gia, các thầy các cô hãy nâng niu, trân trọng những thành quả to lớn mà trường đã phấn đấu đạt được trong suốt 50 năm qua. Thành quả đó là lương tâm, trách nhiệm, sự hy sinh, cống hiến của biết bao thế hệ nhà giáo đã góp công xây dựng nên. Với sức trẻ và nhiệt huyết, các thầy các cô hãy cống hiến trí tuệ và tài năng của mình vì học sinh thân yêu, cùng viết tiếp những trang sử vàng truyền thống của trường, để trường ta xứng danh với tầm vóc của mảnh đất Điện Biên lịch sử anh hùng./.

Tháng 11 năm 2012

Hoàng Minh Tâm

Cựu học sinh lớp 12C1 (1982-1985)

Page 1 of 2