16 Tháng 12 2018
 

TIẾNG NÓI TỪ NGHĨA TRANG

Đánh giá mục này
(0 bỏ phiếu)

TIẾNG NÓI TỪ NGHĨA TRANG
Phạm Thị Xuân Châu


Đã bao lần tôi qua những nghĩa trang. Những nén hương mang theo không lần nào đủ thắp hết cho từng ngôi mộ. Tôi thường đọc rất lâu những dòng tên, quê quán, ngày nhập ngũ, hy sinh của người đã khuất, và rưng rưng thầm tính tuổi đời của những con người “mãi mãi tuổi hai mươi”.
Qua bao nghĩa trang, đọng lại trong tôi là hình ảnh những hàng bia im lìm, không tiếng nói. Những ngôi mộ của các liệt sĩ từng hàng, từng hàng thẳng tắp trang nghiêm trong cái mênh mông im lặng, không lời.
Nhưng cái cảm giác im lặng ấy bỗng chốc nhòa đi khi tôi bất chợt gặp một bài thơ: Bài Chiều Nghĩa trang Trường Sơn (*).
Bài thơ là những rung cảm mãnh liệt, sâu sắc của tác giả về một chiều nơi nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Không phải là cái im ắng như những nghĩa trang tôi từng cảm thấy, mà từ bài thơ như có những tiếng nói vọng lại từ những mộ chí trang nghiêm trong buổi chiều sâu thẳm:


Chiều nghĩa trang
Lặng ngắt
Các anh nằm
Ngay hàng thẳng tắp
Nghe tắc kè kêu
Khắc khoải
Sắp về


Đọc bài thơ, cứ như thấy vẳng lại từ nghĩa trang những tiếng nói. Mỗi đoạn thơ nói một chuyện đời của người nằm xuống. Từng đoạn thơ vang lên những tiếng nói từ nghĩa trang lặng im, nói với người ngày nay tiếng nói của những con người mà nay không còn có thể lên tiếng để nói với người nay được nữa.
Bài thơ với nhiều xúc động, và cũng sâu sắc nhiều ý nghĩa, cho người đọc cảm nhận nơi đây yên nghỉ những con người dẫu chết mà không chết. Vẫn là đội hình, đội ngũ của những con người từ mọi miền khác nhau của Tổ quốc, đến bên nhau trong tình đồng đội, cùng ra đi theo tiếng gọi núi sông, để lại sau lưng giọt nước mắt nhớ thương của những người thân yêu bao tháng năm khắc khoải mong chờ:


Về đây những đội hình
Mang tên tỉnh tên thành
Tên làng tên xã
Như buổi giao quân
Trống reo rộn rã
Mẹ và em nước mắt nhìn theo.


Bài thơ se sắt một nỗi niềm. Tác giả đã từ hiện tại mà làm sống dậy những liên tưởng về quá khứ của cuộc đời những người lính một thời trận mạc, rồi từ quá khứ lại trở về hiện tại, để suy ngẫm nhiều hơn:


Anh nằm đây
Heo hút núi đèo
Vài nén nhang
Không đủ ấm ngàn ngôi mộ


Những tiếng nói không lời cất lên từ chiều nghĩa trang hắt hiu, vài nén nhang không đủ làm ấm lòng người đã khuất. Người thân yêu của các anh vẫn sống với bao vất vả nhọc nhằn. Đồng đội của các anh, có những người đã khuất, người còn sống thì vẫn nặng mang bao niềm tâm cảm. Bài thơ không chỉ đặt ra những vấn đề có ý nghĩa sâu sắc về tình cảm, trách nhiệm đối với người đã hy sinh, đối với những người đang sống, mà cao hơn chính là về thái độ của người hôm nay đối với quá khứ:


Anh nằm đây
Heo hút núi đèo
Vài nén nhang
Không đủ ấm ngàn ngôi mộ
Mẹ cha ta đã thành thiên cổ
Em ta tất bật mưu sinh
Còn mấy lính già
Chống gậy ngồi bên


Vấn đề bài thơ gợi ra không phải chỉ là quay lại với những gì đã mất để mong giữ lại những điều còn mãi, mà là những vấn đề rất thiết cốt với người ngày xưa và cả người ngày nay, sao cho người ngày nay sát lại gần hơn với người đã khuất.
Thế hệ đi trước đã rửa được nỗi nhục mất nước, nỗi nhục nô lệ, đem máu xương viết lên lịch sử oai hùng của dân tộc và trao lại cho các thế hệ sau niềm kiêu hãnh, tự hào cùng với một giang sơn đã độc lập, một Tổ Quốc đã thống nhất vẹn toàn.
Thế nhưng các anh đâu đã được yên nghỉ theo đúng nghĩa, khi mà hôm nay:


Đất nước hòa bình
Nhưng nào đã bình yên
Giặc ngoại xâm, nội xâm đe dọa
Anh nằm đây có lúc nào yên ả
Sóng biển Đông
Rung chuyển chỗ anh nằm.


Bài thơ là sự kết nối xưa và nay, hiện tại và quá khứ, đặt ra
vấn đề vô cùng sâu sắc và thiết cốt của thời đại ngày nay:
Làm thế nào để giữ vững thành quả đã có từng phải đánh đổi bằng bao mồ hôi nước mắt và bấy nhiêu xương máu?
Phải thế nào trước những nguy cơ đã hiển hiện ngay trước mắt?
Phải thế nào để sát lại với lý tưởng, ý chí, quyết tâm của thế hệ đi trước, để xứng đáng với những người đã khuất, xứng đáng với Tổ Quốc hôm nay?
Càng trăn trở, suy tư về hiện tại, càng thấy giá trị vô song của sức mạnh quá khứ.
Bài thơ mở đầu là không khí buồn u tịch: “Chiều nghĩa trang/ Lặng ngắt”, nhưng kết thúc lại là hình ảnh thật mãnh liệt: “Chiều nghĩa trang/ Lồng lộng gió ngàn”.
Ở đầu bài thơ là hình ảnh nghĩa trang chiều quạnh hiu với những con người đã vĩnh viễn lặng yên trong những hàng bia mộ, nhưng kết thúc bài thơ lại là một hình ảnh khác, sáng ngời lên ý nghĩa của sự bất diệt, trường tồn:


Chiều nghĩa trang
Lồng lộng gió ngàn
Đang bật dậy
Những linh hồn
Bất tử.


Bài thơ như một tượng đài sừng sững cất lên tiếng nói thiêng liêng của những người đã hy sinh vì nước, nhắn gửi cho các thế hệ sau, trao cho thế hệ sau ngọn lửa của lòng yêu nước và ý chí giữ nước bất diệt.
Đấy là tiếng nói cất lên từ nghĩa trang đồi A1, những nghĩa trang Trường Sơn, Quảng Trị, Vị Xuyên, từ trăm nghìn những nghĩa trang mà ta gặp trên khắp các ngả đường đất nước.

Điện Biên Phủ ngày 11 tháng 1 năm 2017
Phạm Thị Xuân Châu

Chú thích: (*)Bài thơ của tác giả Trần Ngọc Phượng, đăng trên Tuần báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, số 457, ngày 6/7/2017.
Sau đây là toàn văn tác phẩm.

 

Chiều Nghĩa trang Trường Sơn
Chiều nghĩa trang
Lặng ngắt
Các anh nằm
Ngay hàng thẳng tắp
Nghe tắc kè kêu
Khắc khoải
Sắp về

Về đây những đội hình
Mang tên tỉnh tên thành
Tên làng tên xã
Như buổi giao quân
Trống reo rộn rã
Mẹ và em nước mắt nhìn theo

Anh nằm đây
Heo hút núi đèo
Vài nén nhang
Không đủ ấm ngàn ngôi mộ
Mẹ cha ta đã thành thiên cổ
Em ta tất bật mưu sinh
Còn mấy lính già
Chống gậy ngồi bên

Đất nước hòa bình
Nhưng nào đã bình yên
Giặc ngoại xâm, nội xâm đe dọa
Anh nằm đây có lúc nào yên ả
Sóng Biển Đông
Rung chuyển chỗ anh nằm

Chiều nghĩa trang
Lồng lộng gió ngàn
Đang bật dậy
Những linh hồn
Bất tử.

Đọc 2670 thời gian



Xem thêm trong thể loại này: « THƠ CỦA NGƯỜI CẦM SÚNG