28 Tháng 11 2022

TRƯỜNG CẤP III ĐIỆN BIÊN NGÀY ẤY

Đánh giá mục này
(0 bỏ phiếu)

Tôi về trường cấp III Điện Biên từ ngày 25 tháng 10 năm 1975. Vị trí nhà trường bấy giờ nằm gọn trong khu đất đối diện trường PTTHTP qua trục đường 279. Cơ sở vật chất rất nghèo nàn đơn sơ, có thể mô tả gọn thế này:

  1. Nhà hội đồng nằm sâu và chính giữa khuôn viên toàn đất, quay mặt ra đường 279; tường gạch, mái gianh; giữa nhà là bàn bóng bàn đóng bằng gỗ ván, sơn xanh; treo phía trên là chiếc bóng điện 75W (điện có từ 19 đến 22 giờ, thỉnh thoảng nó lại hoạt động kiểu tối, sáng theo chu kỳ được gọi là điện thở); có bốn chiếc ghế gỗ dài kê hai bên dành cho cầu thủ và khán giả;
  2. Sau nhà hội đồng là nhà ở tập thể của cán bộ, giáo viên mỗi người một phòng 6m2; vợ chồng Thầy Lộc Nhũ được một căn nhà độc lập đối diện nhà tập thể qua mảnh vườn trồng sắn; 01 nhà bếp và là nhà ăn tập thể.

17 thầy cô với các hoàn cảnh cá nhân gồm:

Hoàng Xuân Chi – GV địa – Hiệu trưởng (vợ quê TB)

Phạm Hữu Dược  - GV địa (chưa GĐ, quê Hưng Yên)

Phạm Thị Miêng GV sử (T.Hoá, chưa GĐ, nhà ở ĐB)

Nguyễn Lựu – GV văn – Bí thư chi bộ (vợ quê Ninh Bình)

Nguyễn Nhuấn GV văn (vợ quê PX-HN)

Vũ Huy Chương GV văn (chưa GĐ, quê HN)

Phạm Viết Lộc GV toán (Phú Thọ, Chị Nhũ là gv văn cấp II)

Phạm Hải Quân GV toán (chưa GĐ, quê Hải Dương)

Phan Đình Văn GV lý (chưa GĐ, là HS ĐB, nhà ở phố cũ)

Phạm Văn Tâm GV lý (chưa GĐ- Ứng Hoà - HN)

Phạm Quang Huỳnh - GV hoá (vợ ở thị xã TB)

Ông Dũng - GV hoá (chưa GĐ, Phùng - HN)

Lê Hữu Thoại - GV sinh (vợ Nghệ An)

Dương uý Tố - GV sinh (vợ Vĩnh Phúc)

Nguyễn Viết Hoa - GVNN (chưa GĐ, Thường Tín HN)

Đinh Công Dương - GV thể dục (vợ Hải Dương)

Giang Tô Oanh - GV nhạc (chưa GĐ, nhà ở phố cũ)

 

03 nhân viên gồm:

Ông Kiển – cán bộ hành chính

Bà Ruối – cấp dưỡng

Cô Tuyền – kế toán, thủ quỹ

 

 Năm 1976 có thêm các thầy cô:

Trần Anh Tuấn – HN, GV Toán

Phạm Vân Hùng GV văn  (là học sinh ĐB)

Hoàng Thị Cánh GV văn (Dân tộc Thái ĐB là học sinh ĐB)

 

   Từ năm 1977 trở đi số cán bộ giáo viên trường ngày càng nhiều, trong số đó có nhiều người là học sinh trường cấp III Điện Biên cùng các thầy cô người dân tộc thiểu số tốt nghiệp từ các trường PTDT nội trú như Thầy Triệu Yên Phú, Cô Chu Trà Me, Thầy Lý A Lầu…

  1. Hai cánh gà nhà hội đồng gồm:
  • Bên trái là nhà KTX HS;
  • Bên phải là 03 lán lớp học; mỗi lán 2 phòng học (số học sinh toàn trường khoảng hơn 200 gồm 6 lớp: 01 lớp 10, 02 lớp 9 và 03 lớp 8; chỉ học một buổi sáng);
  1. Sân trường là mảnh đất vuông vắn kéo từ hai đầu hồi nhà hội đồng ra đến đường 279 (Đường hữu nghị quan 12)

Tất cả các công trình đều là tranh tre, mỗi nhà hội đồng là tường gạch.

     Là trường lớn nhất so với trường Tuần Giáo, Thị xã Lai Châu, Phong Thổ. Năm 1976 đi bồi dưỡng hè, giáo viên 4 trường ngồi chưa đầy một phòng học. Cả Ty GD biết nhau, ai là nhân tố mới tất cả biết hết. 

1

     Chân ướt, chân ráo về trường tôi nhanh chóng trở thành ngỗng non, đối tượng cho các trò vui. Rất nhiều cú lừa ngoạn mục được sắp xếp có trình tự, có kế hoạch không thể biết và không thể tránh. Khi sập bẫy thì mọi sự đã rồi. Các ông cười sung sướng đến vài hôm mới nguội rồi lại chuẩn bị cho những cú lừa khác ngoạn mục hơn. Dư âm những cuộc như thế kéo dài mãi vì cứ gặp nhau là lại được lôi ra, càng kể càng hấp dẫn như mới.

     Năm sau Ông Trần Anh Tuấn lên thế thân, tôi được mọi người nâng cấp thành ngỗng bánh tẻ. Thực ra ngỗng non Tuấn không còn non nữa. Ngỗng phát hiện ra người Thái bán một đồng mười quả cam Mường Pồn, ai đến sớm cứ quả to, ngon chọn, đến chiều vẫn giá ấy mà hàng vẫn hết. Sớm mờ sương nào ngỗng cũng xách một túi cam về phòng. Năm đầu tiên ngỗng hay đi xếp hàng ở cửa hàng thực phẩm mặc dù không có tem phiếu. Cứ đến lượt, cô Tún người Thái lại chăm chú nhìn và hỏi, ngỗng lẳng lặng quay xuống cuối hàng xếp tiếp. Hoá ra Cô Tún hấp dẫn hơn thịt nhiều.

     Cái tập thể ấy toàn người xa quê. Tuy đùa vậy nhưng rất đầm ấm, rất sẻ chia. Thấy sáng nào cũng chạy sang phòng bóc lịch, biết tôi nhớ nhà, Ông Nhuấn thỉnh thoảng lại vài câu vọng sang “Chiều nay có phải em về quê em Miền Trung, về thăm quê mẹ cho anh về cùng…” buồn não lòng. Các buổi chiều tất cả lao vào các môn thể thao như bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, xà đơn, xà kép…buổi tối lại kéo nhau dọc đường 279, dưới ánh trăng rọi xuyên hai hàng cây long não thơm mơ màng xuống phố cũ hoặc nông trường bộ tìm kiếm những câu chuyện vui. 

2

      Phong trào chơi bóng bàn huyện Điện Biên thật sôi động. Cả huyện có hai bàn bóng, một của thư viện chỗ Anh Khải và một của trường. Buổi tối từ 7 đến 10 giờ các tay vợt kỳ cựu các cơ quan tụ tại nhà hội đồng gồm Ông Ninh thương nghiệp, Ông Khải thư viện, Ông Tình nhiếp ảnh, Ông Đạt thuyết minh phim… và đội ngũ giáo viên trường. 

      Ông Phan Đình Văn đương kim vô địch tỉnh bộ môn bóng bàn và chứa đựng đầy các câu chuyện huyền thoại về tài năng trong mọi lĩnh vực thể thao, âm nhạc. Tùy từng đối tượng mà ông chấp số quả sao cho ông phải cố mới thắng. Ông Quân được chấp 6; các ông Khải, Tình, Ninh, Tâm, Dược được chấp 10 đến 15. Riêng Ông Lựu được chấp 20, có nghĩa Ông Lựu chỉ cần được một quả là thắng. Có hôm Ông Lựu thắng hết, muốn giảm chấp xuống 19 nhưng Ông Văn không cho.

      Chuyện được kể lại, ngày trường còn ở khu bảo tàng, bàn bóng kê ngoài sân. Có một trận cá độ giữa Ông Chi và Ông Lựu được ghi vào trang truyền thống nhà trường. Không hiểu sao hôm ấy hai ông già cay cú gì mà rủ nhau giữa trưa nắng chang chang cởi trần đội nón chơi bóng, cả hội đồng làm trọng tài. Luật đấu là chơi hai trận, mỗi trận 3 séc; mỗi bên buộc một con gà vào chân bàn, bên thua mang gà đi thịt làm lễ công nhận mãi mãi. 

4

      Sau một tiếng đồng hồ hai ông mồ hôi mồ kê đầm đìa, mặt mũi đỏ rực say nắng. Kết quả mỗi ông thua một trận thế là cả hai con gà say nắng được hội đồng mang đi thịt giúp.

     Trường có các cây văn nghệ lãng tử. Ông Văn acoocdeon, Ông Dược ghi ta, Ông Tâm bộ gõ, Ông Huỳnh xắc xô, Ông Giang Tô Oanh ca sĩ bẩm sinh. Một buổi chiều buồn các ông mang  tăng âm loa đài tụ tập trước cửa nhà hội đồng quay mặt ra đường ngẫu hứng một chương trình văn nghệ quốc tế.

Với giọng trầm đục khỏe khoắn và hơi khàn của người Lào Lum Ông Oanh bằng cả tâm hồn thăng hoa với những bài Bezame, Trở về Suriento, Cô gái Sầm nưa, Lăm Tơi trong dàn nhạc đệm như lên đồng. Dân tình ngang qua đường dừng lại xem đông hơn đêm biểu diễn của văn công trung ương. Tiếng vỗ tay cổ vũ, tiếng hò reo gào thét đòi hát lại rền vang sân trường nhỏ.

Đội văn nghệ lớn dần theo sự trưởng thành của nhà trường. Bổ sung thêm Ông Kổn, Ông Tuấn, Ông Hà - ghi ta; Ông Dược chuyển sang bộ gõ, Ông sáng, Ông Hiếu, Cô Lan ca sĩ… với những dòng nhạc đa dạng phong phú. Dàn nhạc trở thành đội văn nghệ chuyên nghiệp đi biểu diễn cho các đám cưới, đám nào không được đội phục vụ coi như không thành chuyện.

    Ông Chi hiệu trưởng có phong cách sống đậm chất quê Thái Bình. Ông giảng dạy và nói chuyện dân dã đến vui. Ví dụ Ông kể: …ngày trường sơ tán về bản Bồ Hóng, một lần có cái máy bay Mỹ nó bay qua bản đánh véo một cái rồi phóng liền hai quả bơm bớp nổ đánh oác, oác, hai cột khói bốc lên cuồn cuộn. Một bà gánh tương trên đường sợ quá ngã lăn quay ra đất làm đổ hai thùng tương thơm váng cả bản.

5

    Hoặc chuyện Ông giải thích nguyên nhân động đất do sập trần hang như thế này: trong lòng đất có những khoảng trống lớn gọi là cái hang. Đương yên đương lành thì bỗng nghe đánh oẵng một cái, mặt đất rung chuyển, nhà cửa chao đảo thì ra cái trần hang bị sập thành cái hố đen ngòm sâu hoăm hoắm. Ông Dược dạy địa nghe sướng quá bảo cái hố có khi phải to như cái giếng trường mình ấy nhỉ, Ông Chi trợn mắt: to hơn ấy chứ, cái giếng trường mình ăn thua gì! Kể xong ông sòng sọc điếu thuốc lào, khói theo làn gió lan toả khắp phòng.

    Vợ chồng Ông Lộc Nhũ có con trai tên là Long. Cả trường có mỗi đứa trẻ 4 tuổi nên cả Hội đồng tranh nhau giáo dục. Ông Chi thì dạy nó cái đèn bằng các tiếng Nga, Anh, Pháp và tiếng Thái. Ông Tố thì dạy nó đóng vai Ham Lét. 

     Một hôm thấy bà ngoại cháu Long chạy đùng đùng ra giữa sân trường réo: Lại là Ông Tố, Ông Tố đâu rồi, Ông Tố đâu rồi, dạy cháu thế à? Ông Tố chui vào nhà Hội đồng cười như ma làm và kể: Ông dạy thằng Long rồi đứng rình xem nó thực hiện thế nào. Thằng Long phăm phăm đi về phía bà ngoại đang thái cây chuối cho lợn, cầm thanh tre làm kiếm đưa lên trước ngực rồi chĩa về phía bà, người đứng ưỡn, đầu ngẩng cao dõng dạc nói: “Bà ơi! Trái tim anh nóng bỏng yêu thương”. Thấy Bà ấy đứng phắt dạy buông rơi con dao thế là tôi chạy. 

     Các tối thứ bảy, ngày chủ nhật chúng tôi thường rủ nhau đi thăm gia đình phụ huynh, gia đình cán bộ các cơ quan khác. Phụ huynh phần nhiều là khối công chức, viên chức, cán bộ Nông trường Điện Biên, nhân dân xây dựng kinh tế mới… Đến với họ là đến với những câu chuyện của quê hương, của chiến dịch Điện Biên Phủ, của bà con nông trường, bà con nông dân rồi chuyện về đồng bào dân tộc...

7

      Hôm đến thăm gia đình Bác Nhật ở nông trường bộ, cả chủ và khách vừa ăn lạc rang vừa râm ran đủ thứ chuyện. Nhân chuyện nông trường trồng café Bác kể một chuyện rất thú vị. Bác thuộc Sư đoàn 316, giải phóng Điện Biên được một tháng thì Sư được lệnh điều về làm nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô. Hàng ngày các chiến sĩ tham gia các hoạt động tuyên truyền chính trị, giữ gìn an ninh thành phố cùng với công việc tiếp quản. Tối đến có thể đi chơi theo nhóm ít nhất 3 người và đến giờ giới nghiêm phải trở về đơn vị.

Một tối, nhóm của Bác lang thang qua cái quán nhỏ có biển đề: “Café Đô”, thấy hay hay mọi người kéo vào và kêu: cho 5 café đô! Bà chủ quán mang ra 5 fin café, một đĩa đường kính viên nén, 5 chiếc dìa nhỏ xíu. 5 người ngồi nhìn fin café nhỏ giọt trông như dân chơi sành điệu. Ngồi mãi, café thì không nhỏ nữa rồi, giờ giới nghiêm thì sắp đến mà tất cả vẫn ngồi nguyên. Sốt ruột quá Bác Nhật quay sang Ông Quân quê Hải Phòng (dân chơi đường 5) giục: Chơi đi chứ? Ông Quân: chơi thì chơi! Bác Nhật: thế Anh chơi trước đi. Ông Quân thành thạo nhấc chiếc fin lên, trút bã vào tách café đã lọc, lấy dìa ngoấy đều, ngửa cổ nhăn mặt nốc một hơi hết sạch, thò tay nhặt viên đường bỏ vào túi. Tất cả y mẫu làm theo,  Bà chủ quán tròn mắt ngỡ ngàng. Ông Quân đứng lên rút tiền thanh toán, bà chủ quán nhìn các chú bộ đội vẻ ái ngại và không nhận tiền. Mọi người bước nhanh ra cửa để kịp về trước giờ giới nghiêm. Trên đường về đơn vị, vừa ăn viên đường vừa nói với nhau: tưởng Café Đô ngon thế nào, đắng ngòm, khó nuốt, chả trách phải có thêm viên đường! Ông Quân: Mình chưa quen đấy thôi, Café Đô là nổi tiếng thế giới đấy!  

     Vợ Bác Nhật trẻ hơn đến chục tuổi trông thanh lịch, là một trong 200 thiếu nữ Hà Nội tình nguyện lên xây dựng Nông trường Điện Biên với hợp đồng là 18 tháng. Các cô gái được biên chế theo tổ đội sản xuất, được bố trí ăn ở tập thể cách biệt hẳn nơi ở và sản xuất của bộ đội khoảng 300m. Hai bên có phong trào thi đua sản xuất, văn nghệ và thể dục thể thao. Quan hệ nam nữ được quy định rất nghiêm ngặt, nghiêm lắm. Gần nhau đấy nhưng chẳng dám hò hẹn gì, để trong lòng thôi. Sự tình thế nào  mà cứ âm ỉ, bén dần, bén dần rồi bùng lên dữ dội. Nhìn từng cặp, từng cặp dập dìu nhau đi sản xuất, Chính trị viên sư đoàn rất là “lo lắng”  nhưng đành vậy, kệ thôi, mình cũng thế mà, biết làm sao! 

Hết 18 tháng, kiểm kê nghiệm thu và thanh lý hợp đồng chỉ có hơn chục cô hoàn thành nhiệm vụ được trở về Hà Nội với nhiều bằng khen, giấy khen. Gần 200 cô vi phạm điều lệnh quân đội nhưng không bị kỷ luật và trở thành vợ các chiến sĩ Điện Biên đến tận bây giờ, Bác gái nằm trong số đó. Kỷ luật Quân đội có khác, Quân lệnh như sơn, khiếp! 

Thị xã chuyển về Điện Biên, Nông trường bộ chuyển vào vùng đồi C13 định cư, trường mất một nơi đi chơi đầy thú vị. Nghĩ thật thiệt thòi và tội các cụ quá. Là người giải phóng mảnh đất lại là người nhen nhóm xây dựng cuộc sống cả nơi đây giờ lại chui vào khe núi, phía ngoài đẹp vậy đều dành cho khối công chức hoặc người dân tự do. Rất ít người thoát ra khỏi hoàn cảnh ấy. Thỉnh thoảng vào thăm chúng tôi thấy thật ái ngại rồi dần không dám đến nữa.

   Phụ huynh vùng kinh tế mới lại có những câu chuyện khác. Ông Riễn (Bố cô giáo Đào Bình trường mình) người Quỳnh Phụ, Thái Bình. Nhà Ông có đến 5, 6 đứa con, 2 đứa đang học tại trường cấp III, tất cả ở trong một ngôi nhà gỗ 3 gian hai trái trát tooc xi, lợp tranh. Các công trình phụ đủ cả. vườn tược rau cỏ, cây trái đâu ra đấy. Một cái ao chừng 200m2 gần ngay bờ suối, nước ra, nước vào thoải mái, đàn cá trắm cỏ thinh thoảng lại nhao lên đớp đám lá sắn nổi lợp lờ trên mặt nước trông thật vui mắt. Ông là trí thức thời pháp nên uyên thâm trong các câu chuyện kể.

Trong bữa cơm quê thân thiện đủ món cây nhà lá vườn, Ông ề à: HTX Thanh An về đây được chia ruộng, chia đồi. Hộ gia đình được chia đất thổ cư làm nhà, trồng trọt, chăn nuôi phát triển kinh tế phụ. Nói chung tốt cả, nhiều điều tốt hơn quê.  Cái đợt HTX triển khai công việc trồng sắn, ngô trên đồi, ban đầu nhìn người Thái làm mà sốt ruột. Đất đồi sau phát đốt họ cứ để nguyên vậy chẳng cầy cuốc gì, cứ bổ một nhát, quăng một mẩu hom sắn xuống rồi lấy chân đá đá lấp đất thế là xong. Trồng ngô thì dùng gậy nhọn chọc một lỗ, thả một hạt, di ngón chân cái vào miệng lỗ thế là xong. Chả trách nghèo! Các bác hiện đại hóa, sản xuất lớn đánh trâu lên đồi cày, khó thì cuốc nhặt sạch cỏ dại, làm tơi đất, trồng theo luống, cây cách cây, hàng cách hàng đều tăm tắp, trông như một bức tranh. Sẽ là hàng tấn, tấn! Nhưng sự thể lại không hẳn là vậy. Ngô gieo xong thì đủ các loại chim, chuột, kiến, mối ăn diệt, đuổi không xuể. Chưa hết, vẫn chưa là gì. Mùa mưa đến, những trận mưa đầu mùa đã hình thành hệ thống các rãnh nước sâu hoắm, rộng toang ngoác chảy ngoằn nghoèo dọc từ đỉnh xuống tận chân đồi rồi đổ ra dòng suối bên dưới kéo theo hàng tấn đất màu mỡ. Những cây ngô non hai ba lá rải khắp đến tận ven suối, có chỗ dồn tụ thành đống. Sắn thì mỗi nơi một hom. Nhìn sang nương đồng bào, ngô sắn cứ mơn mởn vươn mình trong gió, trong mưa, trong nỗi thất vọng của nền sản xuất lớn. Thả cá cũng vậy, thả để mùa mưa cung cấp con giống cho các ao của đồng bào, một phần phóng sinh ra sông, ra suối làm việc thiện. Ừ nhỉ! Thì ra… chao ôi là ngao ngán!

    Phụ huynh vùng công chức, viên chức lại rất nhiều chuyện về đồng bào dân tộc vì được đi nhiều, tiếp xúc nhiều. Họ nói về  y phục, về một số phong tục tập quán của từng dân tộc. Y phục của phụ nữ Thái là đẹp nhất từ kiểu dáng, phối màu đến các hoa văn và phụ kiện trang sức đi kèm. Vài chị em phụ nữ Thái trẻ trung trong bộ váy đen, áo cóm da trời, hàng cúc bạc, thắt lưng eo xanh cánh trả, hông cuốn hờ dây xà tích bạc…tất cả làm lộ những đường cong mềm mại của tạo hóa. Đầu trùm khăn piêu, vai đeo túi thổ cẩm, dáng đi uyển chuyển, nụ cười e lệ, mắt nhìn hoang dại líu ríu rủ nhau xuống chợ hoặc đi chơi ngày tết. Ai nhìn cũng thấy xao xuyến, bâng khuâng. Ngay cái tết Tây Bắc đầu tiên mình đi ném còn cùng người Thái. Tết Nguyên đán hoặc Tết Độc lập người Thái đi chơi đông kín đường. Dân Điện Biên coi trọng hai cái tết ấy. Trò chơi hấp dẫn nhất của họ là ném còn. Một bên là nam, một bên là nữ đứng cách nhau một khoảng 15, 20 mét. Quả còn vải bông tua rua bay đi bay lại, quả bắt được, quả rơi. Ai để rơi phải đính kèm và ném trả món quà là chiếc nhẫn hay hoa tai bạc giả. Cứ vậy mà cả ngày không chán. Đến bữa họ rủ nhau vào chỗ khuất đâu đấy mang thức ăn ngày tết ra cùng ăn. Đôi nào vương vấn thì rủ nhau vào rừng sáng mai dậy ném tiếp. Mình ngố, quả nào cũng bắt, quả tay trái, quả tay phải tưởng giỏi lắm, được đến vốc nhẫn và hoa tai. Ban đầu họ cũng thích cười rúc rich, nụ cười có nắng, sau chẳng thấy quả nào bay về phía mình nữa.    

   Y phục của phụ nữ Mèo lại khác, lúc nào cũng như trời đang đông. Khăn vấn tóc giả cuốn vành trên đầu, cổ và hai tai đeo nhiều vòng bạc, váy liền áo bằng vải thổ cẩm dệt dày, gấp nhiều nếp xòe rộng, hoa văn rất cầu kỳ; chân cuốn xà cạp đến gối, đi dày vải hoặc dép cao su, Dáng đi mạnh mẽ, khỏe khoắn, lưng đeo gùi….tất cả để phù hợp với khí hậu và địa hình núi cao. Họ bảo người Mèo chỉ tắm gió, có nghĩa đứng ở đầu gió kỳ cho ghét ra rồi “để gió cuốn đi”.  Còn váy thì giặt khô, có nghĩa vắt lên bờ rào phơi nắng rồi lấy gậy đập cho “bụi gió thôi bay” là được. Ai không biết mang ra suối giặt, khi no nước nó kéo đi luôn cả người lẫn váy. 

    Người Thái làm chủ hết cánh đồng Mường Thanh và các vùng thấp khác. Canh tác của người Thái có vẻ nhàn hạ. Ngô thu hoạch chỉ bóc lộ hạt rồi treo khắp nơi, ăn đến đâu tẽ hạt đến đấy. Lúa chỉ trồng vụ mùa, gặt xong chất đống ngoài ruộng. Hết  gạo ra đập đập rũ rũ lấy thóc mang đổ vào cối nước, ngày mai xúc gạo về ăn. Cám xảy luôn ra đất cho các loại gia súc, gia cầm tranh nhau, ăn hết khắc tản đi. Trâu thả ngoài rừng, những con dùng cầy kéo được nhốt dưới gầm sàn, bẩn chết đi được. Lúa nương gieo trồng vào thời điểm chớm mưa. Khi chín mang dụng cụ đi tuốt lấy hạt gùi về. Gạo nương ngon, đặc biệt là nếp khẩu tan. Xôi khẩu tan đồ bằng chõ gỗ thừng mực đặt trên chiếc ninh đồng. Xôi chín bốc hơi thơm cả bản, dùng tay chim chim rồi chấm muối trộn mắc khén rang giã nhỏ. Buổi sáng, xôi nguội nắm chặt, xiên que nướng trên than củi đến khi hạt xôi nổ lép bép như hạt bỏng, thơm sực, Thịt nai, hoẵng, trâu, bò, lợn gác bếp hun khói. Khi ăn cuốn lá vùi tro nóng, thấy được bới ra lấy chầy đập giập, xé nhỏ chấm tương ớt, ăn no thì thôi chứ chưa chán bao giờ. Thu hoạch xong là lễ mừng cơm mới để cảm ơn trời đất. Dân bản trống chiêng, uống rượu múa hát thâu đêm. Lễ mừng nhà mới, lễ buộc chỉ cổ tay, lễ ăn hỏi, cưới xin đều vui như vậy. Văn hóa người Thái hay thật đấy. Cứ có là ăn thôi, ăn uống đến say, đến hết cũng được chẳng cần biết ngày mai sẽ ra sao, mà ngày mai có ra sao thì cũng chẳng sao! Rượu người Thái cất hai lần nặng đốt cháy xanh như cồn gọi là Lẩu sơ.  Họ nấu rượu hứng bằng chai và để riêng từ chai rượu đầu đến chai rượu cuối. Ngày làm nghề cất cồn, dùng ancolmed đi đo từng chai, chỉ mua những chai mà ancolmed tụt xuống tận đáy, có chai đến 70, 75 độ. Một thời gian sau họ biết, đổ chung tất cả vào cái can đo chỉ được 40 độ nên thôi, bỏ nghề.

Người Mèo làm chủ trên vùng núi cao. Họ gieo trồng mọi thứ trên nương. Phụ nữ Mèo chịu thương chịu khó suốt ngày làm việc. Chồng uống rượu tiếp khách thì ngồi phục vụ, khi đi chợ uống say nằm ngay trên đường ngủ thì ngồi chờ. Nếu là phụ nữ Kinh thì nó về nhà đóng cửa đi ngủ từ bao giờ. 

    Chế biến thức ăn của người Mèo không cầu kỳ, chủ yếu là nướng, đồ. Gạo đồ, ngô đồ, rau đồ; thịt nướng, cá nướng, măng nướng… rau cải mèo nhổ lên, đập mấy cái vào váy cho sạch đất rồi nhồi vào chõ đồ. Nghe mà thấy ngon kinh! Đúng là “Ăn Mèo, ngủ Thái, gái Kinh”. Lợn mèo, gà mèo, cải mèo, ngô mèo… ngon hết. 

     Nhà Người Thái là nhà sàn, kiến trúc rất cân đối hài hòa, đẹp lắm! Bây giờ không còn ai để trâu dưới gầm sàn, nền được lát gạch men khổ lớn nên gầm sàn chính là nơi sinh hoạt chính của gia đình. Tục lệ của người Thái, con gái cứ đến 15 tuổi phải tự trồng bông, xe sợi, nhuộm màu và dệt vải thổ cẩm đủ làm váy, áo, chăn, ga, gối đệm, rèm, khăn piêu, túi,... để khi xây dựng gia đình được mang hết về nhà chồng. Tục lệ hay thật, cô gái Thái nào cũng giỏi viêc dệt may, thêu thùa. 

Ngủ nhà người Thái rất thoải mái, đủ bộ phục vụ cho một giấc ngủ bình yên và có nhiều giấc mơ đẹp. Hôm cả Hội đồng được mời xuống nhà Ông Tòng Xuân Hương giáo viên cấp I Bản Hồng Nếch. Sau khi rượu ngà ngà thì Bà Đón vợ Ông Hương rót một dãy 18 chén rượu cho 17 ông và cầm một chén lên chúc. Uống xong, tưởng tửu lượng Bà Đón có vậy, Ông Chi líu ríu lưỡi thách đố. Bà Đón rót 18 chén nữa rồi lần lượt uống sạch. Hội đồng lăn quay ra say không biết do rượu hay do mất vía. Ông Hương dìu từng ông vào các phòng ngủ, chăn ga gối đệm đầy, các thầy ngủ đến tối mới tỉnh và bò về nhà. Qua cầu treo C4 Ông Chi phải bò bằng 4 chân.

    Việc dạy học. 

    Được giao dạy KTNN cho tất cả các lớp nên khóa đầu tiên nhớ hết học sinh toàn trường cả họ lẫn tên. Những buổi đầu lên lớp phải chuẩn bị  mấy ngày cho một giáo án, thâm tâm sẽ làm cho học sinh nghe giảng quên cả ra chơi. Đến khi đứng trên bục giảng thấy lộc ngà, lộc ngộc tự nhiên hồn vía lên giời, nói chẳng thành câu chỉ mong hết giờ. Lần nhắc cái Tuyết lớp 9B về việc nói chuyện riêng, nó cười duyên rồi bảo: Thầy nên nhớ là thầy ít tuổi hơn em đấy! Học sinh Điện Biên hiền, ngoan, tôn trọng thầy cô giáo. Đi đường gặp thầy cô đều bỏ mũ nón đứng nghiêm chào. Đang đi xe đạp thì xuống xe cũng chào như vậy. Thích nhưng thấy ái ngại. Ngày 20.11 hoặc tết Nguyên đán học sinh từng lớp kéo nhau đi hết phòng này đến phòng khác thăm và chúc tết các thầy cô. Vui, cảm động và thấy yêu nghề hơn.

   Vì KTNN là bộ môn phụ, không giá trị gì trong sự nghiệp sau này của học sinh và thường được bố trí vào các tiết cuối nên trong các bài giảng tôi thường chế tạo các câu chuyện sao cho học sinh ngồi lại đến hết giờ. Học sinh nào học cả 3 năm cấp III môn KTNN chắc sẽ có bộ sưu tập giàu có về những câu chuyện kể. Ra trường chúng tỏa muôn nơi kiếm tìm sự thật. Sinh viên Trường Pháp lý còn kéo nhau về tận làng, tận nhà để tìm kiếm bằng chứng rồi chúng kết luận: Thầy Hoa toàn nói phét, làm gì ra có. Các môn dạy kiêm, dạy thay như KTCN, Hoá, Sinh… thì được thực hiện với phong cách hoàn toàn khác. Sau này đi dự các buổi Hội lớp, học sinh thay nhau lôi ra không biết bao nhiều là chuyện. Hóa ra chúng nhớ thật, nghe mà cứ ngơ ngẩn cười như chuyện về ai. Quả thực mình chế tạo cũng không đến nỗi nào, hầu hết các chuyện đều ít nhiều liên quan đến kiến thức bài giảng. Khi kể tất cả đều lặng phắc, hồi hộp theo từng tình tiết. Đến nút thắt dừng một chút định kể tiếp thì bỗng thấy cả lớp bật cười sặc sụa, ôm bụng bò ngang, bò ngửa thế thôi chẳng kể nữa. 

   Tính xuề xòa, thoải mái cũng là đề tài cho các cuộc vui. Có những câu chuyện bất diệt như: Giấy xin phép nghỉ học 8 điểm, sổ đầu bài 9 điểm; học sinh lên chốt đã 5 tháng nhưng vẫn gửi bài về chấm, vẫn có điểm tổng kết 8,5; hoặc có lần ngủ quên trên bàn giáo viên đang mơ về một nơi xa lắm thì Ông Tâm vào lay dậy và bảo: Ông ra để lấy chỗ cho tôi kiếm tí, từ sáng đến giờ đã được hào nào đâu… 

    Mỗi lần đi làm thi tốt nghiệp hoặc bồi dường hè có đủ mặt quan chức và giáo viên các trường họ cứ thản nhiên kể những chuyện như vậy rồi gắn tên tôi vào đấy. Nghe cũng thấy hay hay và chẳng cải chính bao giờ. Qua thời gian thêu dệt câu chuyện ngày càng sinh động và giàu tính hài; gia cố chặt chẽ cho thêm tính chân thực đến nỗi Giám đốc Ty cũng cho là thật. Giám đốc hỏi có thật thế không? Dạ.. thật ạ! Có cần cải chính không? không ạ! nó là huyền thoại mà thì cứ kệ nó đi!

6

Đất nước mở cửa, Điện Biên mở cửa, nền văn minh len lỏi đến từng ngõ ngách bản làng; Không còn những quả cầu vải tua rua sắc màu bay đi bay lại vương vấn những mối tình; không còn những ánh mắt hoang dại nhìn đắm đuối làm tê dại những con tim, vắt kiệt những hoang tưởng một thời trai trẻ… Điện Biên vẫn đẹp và hấp dẫn như chính tên tuổi của mình vậy!

Nguyễn Viết Hoa - Điện Biên những ngày xưa ấy

Đọc 775 thời gian